A A A A A
Bible Book List

I-sa 63New Vietnamese Bible (NVB)

Ngày Báo Trả Và Ơn Cứu Rỗi

63 Ai là Đấng từ Ê-đôm đến?
    Ai là Đấng mặc áo đỏ thẫm đến từ Bốt-ra?[a]
Ai trang phục lộng lẫy,
    Tiến bước với sức mạnh vĩ đại.
“Chính là Ta, Đấng phán lời công chính,
    Đấng quyền năng để cứu rỗi.”
Tại sao y phục Ngài nhuộm đỏ?
    Ngài trang phục như người đạp bồn nho.
“Một mình Ta đã đạp, ép nho,
    Không có người nào từ các dân ở với Ta.
Trong cơn giận, Ta đã đạp chúng,
    Trong cơn thịnh nộ, Ta đã chà đạp chúng.
Máu[b] của chúng bắn lên áo Ta,
    Toàn thể y phục của Ta bị vấy hết.
Vì Ta đã định ngày báo thù trong lòng
    Và năm của những kẻ được cứu chuộc của Ta đã đến.
Ta nhìn xem nhưng không ai giúp,
    Ta ngạc nhiên nhưng không ai hỗ trợ.
Nên Ta đã dùng cánh tay Ta để tạo chiến thắng cho Ta
    Và cơn thịnh nộ của Ta đã hỗ trợ Ta.
Ta chà đạp các dân trong cơn giận,
    Ta khiến chúng nó say trong cơn thịnh nộ
    Và Ta đổ máu chúng nó ra trên đất”.

Tình Yêu Thương Kiên Trì Của CHÚA

Tôi sẽ nhắc lại tình yêu thương của CHÚA
    Cùng những lời ca ngợi CHÚA
    Vì tất cả những gì CHÚA đã làm cho chúng ta
Và sự tốt lành lớn lao Ngài ban cho nhà Y-sơ-ra-ên;
    Là những điều Ngài đã ban cho chúng ta.
    Theo như lòng thương xót và tình yêu thương lớn lao của Ngài.
Ngài phán: “Thật, họ là dân Ta;
    Những đứa con không lừa dối.”
    Và Ngài đã trở thành Đấng Cứu Rỗi của họ.
Trong mọi cơn khốn quẫn của họ, Ngài cũng chịu khốn quẫn[c]
    Và thiên sứ trước mặt Ngài đã cứu họ.
Vì tình yêu thương và lòng thương xót,
    Chính Ngài đã cứu chuộc họ,
    Nâng họ lên và bồng bế họ suốt trong những ngày xưa.
10 Nhưng họ đã phản nghịch
    Và làm buồn lòng Đức Thánh Linh của Ngài;
Cho nên Ngài đã trở thành kẻ thù của họ;
    Chính Ngài chiến đấu chống lại họ.
11 Bấy giờ họ[d] nhớ lại ngày xưa;
    Nhớ đến Môi-se và dân Ngài nên hỏi:
Đấng đã đem họ ra khỏi biển
    Cùng với những người chăn và bày chiên của Ngài đâu rồi?
Đấng đã đặt Đức Thánh Linh của Ngài
    Ở giữa họ đâu rồi?
12 Ai khiến cánh tay vinh hiển Ngài
    Đi bên phải Môi-se,
Ai rẽ nước ra trước mặt họ
    Đặng lưu danh muôn đời?[e]
13 Ai đã dẫn họ qua các vực sâu
Như ngựa trong sa mạc,
    Không hề vấp ngã?
14 Như bày súc vật đi xuống thung lũng.
    Thần của CHÚA đã ban cho họ an nghỉ.
Ngài đã dẫn dắt dân Ngài như thế
    Để làm danh Ngài vinh hiển.
15 Từ trời xin Ngài hãy nhìn xuống,
    Từ nơi ở thánh và vinh hiển xin hãy xem.
Lòng nhiệt thành và sức mạnh của Ngài ở đâu?
    Ngài đã thu lại tấm lòng tha thiết và thương xót chúng tôi.[f]
16 Thật, chính Ngài là Cha chúng tôi.
    Dù Áp-ra-ham không biết chúng tôi;
    Y-sơ-ra-ên không công nhận chúng tôi
Thì Ngài, lạy CHÚA, vẫn là Cha chúng tôi.
    Danh Ngài là Đấng Cứu Chuộc chúng tôi từ muôn đời.
17 Lạy CHÚA, sao Ngài để chúng tôi lầm lạc xa đường lối Ngài?
    Sao Ngài để lòng chúng tôi chai đá không kính sợ Ngài?
Vì cớ các tôi tớ Ngài,
    Và vì cớ các bộ tộc thuộc gia sản Ngài xin hãy trở lại.
18 Dân thánh Ngài sở hữu nơi này[g]
    Trong ít lâu nhưng kẻ thù Ngài đã giày đạp Nơi Thánh Ngài.
19 Đã từ lâu chúng tôi trở thành
    Như một dân không do Ngài cai trị
    Và không mang danh Ngài.[h]

Footnotes:

  1. 63:1 Bốt-ra là thành phố cổ lớn, thủ đô của Ê-đôm, có đường giao thương chính đi qua
  2. 63:3 Nt: nước nho ép
  3. 63:9 Ctd: không một sứ giả hay thiên sứ nào cứu họ nhưng sự hiện diện của Ngài đã cứu họ
  4. 63:11 Nt: đặng làm cho Ngài một danh đời đời
  5. 63:12 Nt: đặng làm cho Ngài một danh đời đời
  6. 63:15 Nt: tôi
  7. 63:18 Nt: không có “nơi này”
  8. 63:19 Nt: không được gọi bằng danh Ngài
New Vietnamese Bible (NVB)

New Vietnamese Bible. Used by permission of VBI (www.nvbible.org)

  Back

1 of 1

You'll get this book and many others when you join Bible Gateway Plus. Learn more

Viewing of
Cross references
Footnotes