A A A A A
Bible Book List

Giô-suê 20 Bản Dịch 2011 (BD2011)

Các Thành Ẩn Náu

20 Bấy giờ Chúa phán với Giô-suê, “Hãy nói với dân I-sơ-ra-ên, ‘Hãy biệt riêng ra một số thành ẩn náu mà Ta đã phán qua Môi-se, hầu những ai ngộ sát hay vô ý làm một người bị chết có thể chạy đến đó ẩn náu. Những thành đó sẽ trở thành những nơi trú ẩn khỏi những kẻ đòi nợ máu. Khi kẻ ngộ sát chạy đến một thành nào trong các thành đó, kẻ ấy sẽ đứng ở cổng thành rồi trình bày hoàn cảnh của mình cho các vị trưởng lão của thành; người ấy sẽ được cho vào trong thành, được ban cho một chỗ ở, và sẽ ở trong thành đó với họ. Nếu kẻ đòi nợ máu đuổi đến nơi, người trong thành sẽ không được trao người đến ẩn náu cho kẻ truy đuổi, bởi vì kẻ chết đã bị chết vì rủi ro và hai người trước đó vốn không có thù oán gì với nhau. Kẻ ngộ sát sẽ cứ ở trong thành ấy cho đến khi được đem ra xử trước hội chúng, hoặc đến khi vị thượng tế đương nhiệm lúc đó qua đời; bấy giờ kẻ ngộ sát mới có thể trở về thành mình và nhà mình, tức thành mà kẻ ấy đã phải trốn đi.’”

Vậy họ biệt riêng Ca-đe ở miền Ga-li-lê trong vùng cao nguyên thuộc lãnh thổ của chi tộc Náp-ta-li, Sê-chem trong miền cao nguyên thuộc lãnh thổ của chi tộc Ép-ra-im, Ki-ri-át Ạc-ba (tức Hếp-rôn) trong miền cao nguyên thuộc lãnh thổ của chi tộc Giu-đa. Còn về bên kia Sông Giô-đanh, phía đông Giê-ri-cô, họ biệt riêng Bê-xê trong vùng đồng hoang ở miền đồng bằng thuộc lãnh thổ của chi tộc Ru-bên, Ra-mốt ở Ghi-lê-át thuộc lãnh thổ của chi tộc Gát, và Gô-lan ở Ba-san thuộc lãnh thổ của chi tộc Ma-na-se.

Ðó là các thành được biệt riêng ra cho toàn dân I-sơ-ra-ên và cho những kiều dân sống ở giữa họ, để ai vô tình gây thiệt mạng cho một người nào có thể chạy đến ẩn náu, hầu khỏi chết dưới tay kẻ đòi nợ máu, cho đến khi có cuộc xử án trước hội chúng.

Bản Dịch 2011 (BD2011)

Copyright © 2011 by Bau Dang

Dân Số 35:6-34 Bản Dịch 2011 (BD2011)

Những thành các ngươi nhường cho người Lê-vi sẽ gồm sáu thành ẩn náu, tức những nơi các ngươi dành cho những kẻ gây thiệt mạng có thể chạy đến đó nương thân. Ngoài các thành ấy ra, các ngươi hãy cho họ thêm bốn mươi hai thành nữa. Như vậy tổng số thành các ngươi sẽ nhường cho người Lê-vi là bốn mươi tám thành, luôn với các đồng cỏ chung quanh các thành ấy. Về các thành mà các ngươi sẽ nhường, lấy từ phần sản nghiệp của dân I-sơ-ra-ên, thì chi tộc nào lớn sẽ nhường nhiều thành hơn, còn chi tộc nào nhỏ sẽ nhường ít thành hơn. Mỗi chi tộc, tùy theo số sản nghiệp mình hưởng được mà sẽ nhường một vài thành cho người Lê-vi.”

Các Thành Ẩn Náu

Chúa phán với Môi-se, 10 “Hãy nói với dân I-sơ-ra-ên và bảo họ: Khi các ngươi đã đi qua Sông Giô-đanh để vào trong xứ Ca-na-an rồi, 11 các ngươi hãy chọn trong các thành một số thành để làm thành ẩn náu cho mình, hầu những kẻ không cố ý gây thiệt mạng có thể chạy đến đó ẩn náu. 12 Những thành ấy sẽ là những nơi cho kẻ gây thiệt mạng đến ẩn náu khỏi tay kẻ báo thù, hầu kẻ gây thiệt mạng sẽ không bị giết trước khi được đem ra xét xử trước hội chúng.

13 Các ngươi phải chọn sáu thành làm thành ẩn náu cho mình. 14 Các ngươi sẽ chọn ba thành ở phía đông Sông Giô-đanh và ba thành trong xứ Ca-na-an để làm các thành ẩn náu. 15 Sáu thành ấy sẽ là những nơi ẩn náu cho dân I-sơ-ra-ên và cho những kiều dân ở giữa họ, để những kẻ không cố ý gây thiệt mạng có thể chạy đến đó ẩn náu.

Tội Giết Người và Sự Báo Thù

16 Nếu ai dùng một vật bằng sắt đánh chết người khác, đó là kẻ sát nhân; kẻ sát nhân phải bị xử tử. 17 Nếu ai lấy tay cầm hòn đá đánh chết người khác, đó là kẻ sát nhân; kẻ sát nhân phải bị xử tử. 18 Hoặc nếu ai dùng vật gì bằng gỗ đánh chết người khác, đó là kẻ sát nhân; kẻ sát nhân phải bị xử tử. 19 Chính người đòi nợ máu phải giết kẻ sát nhân. Khi gặp kẻ sát nhân, người đòi nợ máu có quyền giết nó.

20 Tương tự nếu kẻ nào vì lòng ganh ghét mà đẩy người khác ngã, hay cố tình ném vật chi vào người ấy khiến người ấy chết, 21 hoặc vì thù ghét mà vung tay đánh người ta chết thì kẻ sát nhân phải bị xử tử, vì nó là kẻ sát nhân. Khi gặp kẻ sát nhân, người đòi nợ máu có quyền giết nó.

22 Nhưng nếu ai vô tình làm cho người khác bị đẩy ngã, hay vô tình ném vật chi lỡ trúng người khác, 23 hoặc khi khuân vác đá mà sẩy tay làm rơi đá trúng nhằm người khác khiến người ấy chết, tuy chẳng có thù ghét gì hoặc cũng chẳng có ý làm hại người ấy, 24 thì hội chúng sẽ chiếu theo những luật sau đây để xét xử giữa kẻ gây thiệt mạng và người đòi nợ máu, 25 và hội chúng có thể cứu mạng kẻ gây thiệt mạng khỏi tay người đòi nợ máu. Hội chúng sẽ bắt kẻ gây thiệt mạng quay về sống trong thành ẩn náu mà nó đã đến trú ẩn khi mới xảy ra án mạng. Kẻ gây thiệt mạng phải sống ở đó cho đến khi vị thượng tế, người đã được xức dầu thánh, qua đời. 26 Nhưng bất cứ lúc nào kẻ gây thiệt mạng đi ra khỏi ranh giới của thành ẩn náu mà nó đang ở, 27 và nếu người đòi nợ máu bắt gặp nó trong lúc nó đang ở bên ngoài ranh giới của thành ẩn náu, và người đòi nợ máu giết nó đi, thì người ấy không mắc tội làm đổ máu, 28 vì kẻ gây thiệt mạng phải luôn ở trong thành ẩn náu cho đến khi vị thượng tế qua đời. Sau khi vị thượng tế qua đời kẻ gây thiệt mạng mới được phép trở về sống trong sản nghiệp của mình.

29 Ðó là những luật lệ và quy tắc cho các ngươi trải qua mọi thế hệ của các ngươi, bất kể các ngươi sống ở đâu.

30 Nếu ai giết chết một người nào, người ta sẽ dựa vào bằng chứng của các nhân chứng mà kết án tử hình kẻ sát nhân. Tuy nhiên không ai được phép kết án tử hình người nào khi chỉ dựa vào lời chứng của một nhân chứng. 31 Ngoài ra các ngươi không được phép nhận tiền chuộc mạng cho kẻ đã bị kết án tử hình. Kẻ sát nhân phải bị xử tử. 32 Tương tự các ngươi cũng không được phép nhận tiền chuộc mạng cho kẻ đã gây ra án mạng và đã bị kết án phải sống ở thành ẩn náu, để cho phép nó trở về sống trong sản nghiệp của nó trước khi vị thượng tế qua đời.

33 Các ngươi chớ làm ô nhiễm xứ sở các ngươi sống, vì máu vô tội sẽ làm cho đất bị ô nhiễm, và không gì có thể tẩy sạch được máu vô tội đã đổ ra ở đó, ngoại trừ chính máu của kẻ đã gây ra sự đổ máu vô tội đó. 34 Các ngươi chớ làm ô nhơ xứ các ngươi sống, tức xứ Ta ngự trong đó, vì Ta là Chúa, Ðấng ngự giữa dân I-sơ-ra-ên.”

Bản Dịch 2011 (BD2011)

Copyright © 2011 by Bau Dang

Giô-suê 21 Bản Dịch 2011 (BD2011)

Các Thành của Người Lê-vi

21 Bấy giờ các trưởng tộc của người Lê-vi đến gặp Tư Tế Ê-lê-a-xa, Giô-suê con trai của Nun, và các trưởng tộc của dân I-sơ-ra-ên tại Si-lô trong xứ Ca-na-an và nói với họ, “Chúa đã truyền qua Môi-se bảo phải cho chúng tôi một số thành để chúng tôi ở, cùng với những đồng cỏ cho các đàn súc vật của chúng tôi.” Vậy theo lịnh của Chúa, dân I-sơ-ra-ên đã lấy từ sản nghiệp của mình cho người Lê-vi những thành sau đây cùng với đồng cỏ của các thành ấy:

Một số gia tộc của con cháu Kê-hát, tức những người Lê-vi thuộc dòng dõi của Tư Tế A-rôn, đã bắt thăm và nhận được mười ba thành trong lãnh thổ của các chi tộc Giu-đa, Si-mê-ôn, và Bên-gia-min. Những người còn lại của con cháu Kê-hát bắt thăm và nhận được mười thành từ các gia tộc của chi tộc Ép-ra-im, chi tộc Ðan, và nửa chi tộc Ma-na-se.

Các con cháu Ghẹt-sôn bắt thăm nhận được mười ba thành từ các gia tộc của chi tộc I-sa-ca, chi tộc A-se, chi tộc Náp-ta-li, và nửa chi tộc Ma-na-se ở vùng Ba-san.

Các con cháu của Mê-ra-ri theo các gia tộc của họ nhận được mười hai thành từ chi tộc Ru-bên, chi tộc Gát, và chi tộc Xê-bu-lun.

Ðó là các thành và những đồng cỏ trực thuộc các thành ấy mà dân I-sơ-ra-ên đã dùng cách bắt thăm để chia cho người Lê-vi, như Chúa đã truyền qua Môi-se.

Phần của Con Cháu Kê-hát

Người ta lấy từ lãnh thổ của chi tộc Giu-đa và chi tộc Si-mê-ôn mà ban những thành được nêu đích danh sau đây 10 cho các gia tộc của Kê-hát, con cháu của A-rôn, những hậu tự của Lê-vi, vì họ được trúng thăm trước hết. 11 Người ta ban cho họ Ki-ri-át Ạc-ba (Ạc-ba là cha của A-nác), tức là Hếp-rôn, trong miền cao nguyên của Giu-đa cùng với những đồng cỏ chung quanh thành ấy. 12 Nhưng những đồng ruộng của thành và các làng trực thuộc thành thì đã được ban cho Ca-lép con trai Giê-phu-nê để ông ấy làm sở hữu chủ.

13 Người ta ban cho con cháu của Tư Tế A-rôn Thành Hếp-rôn, tức thành đã được biệt riêng ra làm thành ẩn náu cho kẻ ngộ sát, với các đồng cỏ của thành ấy, Líp-na với các đồng cỏ của thành ấy, 14 Giát-tia với các đồng cỏ của thành ấy, Ếch-tê-mô-a với các đồng cỏ của thành ấy, 15 Hô-lôn với các đồng cỏ của thành ấy, Ðê-bi với các đồng cỏ của thành ấy, 16 A-in với các đồng cỏ của thành ấy, Giút-ta với các đồng cỏ của thành ấy, và Bết Sê-mếch với các đồng cỏ của thành ấy. Hai chi tộc đó cho họ chín thành.

17 Còn chi tộc Bên-gia-min cũng ban cho họ Ghi-bê-ôn với các đồng cỏ của thành ấy, Ghê-ba với các đồng cỏ của thành ấy, 18 A-na-thốt với các đồng cỏ của thành ấy, và Anh-môn với các đồng cỏ của thành ấy – bốn thành. 19 Như vậy số các thành với các đồng cỏ của các thành ấy được ban cho các con cháu của Tư Tế A-rôn là mười ba thành.

20 Ngoài ra các con cháu còn lại của Kê-hát, trong các gia tộc của Kê-hát, thuộc dòng dõi của Lê-vi, được chia cho các thành khác trong lãnh thổ của chi tộc Ép-ra-im. 21 Người ta ban cho họ Thành Sê-chem, tức thành đã được biệt riêng ra làm thành ẩn náu cho kẻ ngộ sát, với các đồng cỏ của thành ấy trên miền cao nguyên Ép-ra-im, Ghê-xe với các đồng cỏ của thành ấy, 22 Kíp-xa-im với các đồng cỏ của thành ấy, và Bết Hô-rôn với các đồng cỏ của thành ấy – bốn thành. 23 Chi tộc Ðan cũng chia cho họ: Ên-tê-ke với các đồng cỏ của thành ấy, Ghi-bê-thôn với các đồng cỏ của thành ấy, 24 Ai-gia-lôn với các đồng cỏ của thành ấy, Gát Rim-môn với các đồng cỏ của thành ấy – bốn thành. 25 Nửa chi tộc Ma-na-se cũng cho họ Ta-a-nách với các đồng cỏ của thành ấy và Gát Rim-môn với các đồng cỏ của thành ấy – hai thành. 26 Như vậy tất cả các thành đã chia cho các con cháu còn lại của Kê-hát là mười thành với các đồng cỏ của các thành ấy.

Phần của Con Cháu Ghẹt-sôn

27 Còn các con cháu của Ghẹt-sôn, một trong các tộc họ của người Lê-vi, thì phân nửa của chi tộc Ma-na-se chia cho họ Gô-lan ở Ba-san, tức thành đã được biệt riêng ra làm thành ẩn náu cho kẻ ngộ sát, với các đồng cỏ của thành ấy, và Bê Ếch-tê-ra với các đồng cỏ của thành ấy – hai thành. 28 Chi tộc I-sa-ca cũng chia cho họ Ki-si-ôn với các đồng cỏ của thành ấy, Ða-bê-rát với các đồng cỏ của thành ấy, 29 Giạc-mút với các đồng cỏ của thành ấy, Ên Gan-nim với các đồng cỏ của thành ấy – bốn thành. 30 Chi tộc A-se chia cho họ Mi-sanh với các đồng cỏ của thành ấy, Áp-đôn với các đồng cỏ của thành ấy, 31 Hên-cát với các đồng cỏ của thành ấy, và Rê-hốp với các đồng cỏ của thành ấy – bốn thành. 32 Chi tộc Náp-ta-li cũng chia cho họ Ca-đe ở Ga-li-lê, tức thành đã được biệt riêng ra làm thành ẩn náu cho kẻ ngộ sát, với các đồng cỏ của thành ấy, Ham-mốt Ðô với các đồng cỏ của thành ấy, và Cạc-tan với các đồng cỏ của thành ấy – ba thành. 33 Tổng số các thành chia cho các gia tộc của con cháu Ghẹt-sôn là mười ba thành với các đồng cỏ của các thành ấy.

Phần của Con Cháu Mê-ra-ri

34 Ðối với các con cháu còn lại của người Lê-vi, tức các gia tộc của Mê-ra-ri, thì chi tộc Xê-bu-lun chia cho họ Giốc-nê-am với các đồng cỏ của thành ấy, Cạc-ta với các đồng cỏ của thành ấy, 35 Ðim-na với các đồng cỏ của thành ấy, Na-ha-lanh với các đồng cỏ của thành ấy – bốn thành. 36 Chi tộc Ru-bên chia cho họ Bê-xê với các đồng cỏ của thành ấy, Gia-xa với các đồng cỏ của thành ấy, 37 Kê-đê-mốt với các đồng cỏ của thành ấy, và Mê-pha-át với các đồng cỏ của thành ấy – bốn thành. 38 Chi tộc Gát chia cho họ Ra-mốt ở Ghi-lê-át, tức thành đã được biệt riêng ra làm thành ẩn náu cho kẻ ngộ sát, với các đồng cỏ của thành ấy, Ma-ha-na-im với các đồng cỏ của thành ấy, 39 Hếch-bôn với các đồng cỏ của thành ấy, Gia-xe với các đồng cỏ của thành ấy – bốn thành cả thảy. 40 Vậy các thành được chia cho các gia tộc của con cháu Mê-ra-ri, những người còn lại của các gia tộc người Lê-vi, và họ được chia cho mười hai thành cả thảy.

Tổng Kết Việc Chia Xứ

41 Các thành của người Lê-vi ở trong lãnh thổ của dân I-sơ-ra-ên cả thảy là bốn mươi tám thành với các đồng cỏ của các thành ấy. 42 Mỗi thành trong các thành ấy đều có các đồng cỏ chung quanh; thành nào cũng có các đồng cỏ như thế.

43 Vậy Chúa đã ban cho I-sơ-ra-ên tất cả xứ mà Ngài đã thề với tổ tiên của họ để ban cho họ. Họ đã chiếm lấy xứ ấy và định cư trong xứ ấy. 44 Chúa cho họ được an nghỉ mọi phía như Ngài đã thề với tổ tiên của họ. Trong số tất cả các kẻ thù của họ, không một kẻ thù nào chống nổi họ, vì Chúa đã trao tất cả kẻ thù của họ vào tay họ. 45 Không một lời hứa tốt đẹp nào mà Chúa đã hứa với nhà I-sơ-ra-ên là không thành tựu. Tất cả đều được thực hiện.

Bản Dịch 2011 (BD2011)

Copyright © 2011 by Bau Dang

Dân Số 18 Bản Dịch 2011 (BD2011)

Trách Nhiệm của Các Tư Tế và Người Lê-vi

18 Chúa phán với A-rôn rằng, “Ngươi, các con ngươi, và những người trong chi tộc ngươi sẽ mang lấy trách nhiệm về những tội lỗi vi phạm trong nơi thánh. Riêng ngươi và các con ngươi sẽ mang lấy trách nhiệm về những tội lỗi của chức vụ tư tế. Ngươi hãy đem các anh em ngươi trong chi tộc Lê-vi, tức những người trong tông tộc ngươi đến, để họ cộng tác với ngươi và giúp đỡ ngươi; còn ngươi và các con ngươi phải lo phục vụ trước Lều Chứng Ước. Những người đó sẽ phục vụ theo lệnh ngươi và họ sẽ phục vụ những người trong cả doanh trại. Tuy nhiên họ không được đến gần các vật dụng của nơi thánh hay đến gần bàn thờ, kẻo họ và các ngươi sẽ chết. Họ sẽ giúp đỡ ngươi thi hành những công việc ở Lều Hội Kiến, tức mọi việc liên quan đến Lều. Không người ngoài nào được phép đến gần các ngươi. Các ngươi phải thi hành các nhiệm vụ trong nơi thánh và các nhiệm vụ ở bàn thờ, hầu cơn thịnh nộ sẽ không bao giờ giáng trên dân I-sơ-ra-ên nữa. Ấy là chính Ta đã bắt lấy những anh em người Lê-vi của ngươi ra từ giữa dân I-sơ-ra-ên. Họ đã được dâng lên Chúa, và Ta ban họ làm quà cho ngươi, để họ phục vụ những công việc nơi Lều Hội Kiến. Ngươi và các con ngươi phải cẩn thận thi hành chức vụ tư tế của các ngươi về mọi việc liên quan đến bàn thờ, và những gì phải làm phía sau bức màn. Chức vụ tư tế Ta ban cho các ngươi là một đặc ân. Người ngoài nào đến gần sẽ bị xử tử.”

Phần Dành cho Tư Tế

Chúa phán với A-rôn, “Nầy, Ta ban cho ngươi trách nhiệm về các lễ vật đã dâng hiến cho Ta, tức tất cả lễ vật đã trở nên thánh mà dân I-sơ-ra-ên đã đem dâng. Ta ban các lễ vật ấy cho ngươi và cho con cái ngươi làm phần thuộc về chức vụ của người được xức dầu, và đó là một quy luật vĩnh viễn. Ðây là phần thuộc về ngươi trích từ các của lễ cực thánh không bị thiêu trong lửa: tất cả những gì được mang đến dâng đều trở thành của thánh; các của lễ chay, các của lễ chuộc tội, hoặc các của lễ tạ lỗi đều sẽ thuộc về ngươi và các con ngươi. 10 Ngươi phải ăn những của thánh đó trong nơi cực thánh; mọi người nam của ngươi đều được ăn những của thánh đó; chúng sẽ là những vật thánh cho ngươi.

11 Ðây cũng là phần thuộc về ngươi: Ta ban cho ngươi, cho các con trai và các con gái ngươi, như một quy luật vĩnh viễn: tất cả của lễ do dân I-sơ-ra-ên mang đến và được nâng cao lên để dâng sẽ thuộc về ngươi. Ai trong nhà ngươi tinh sạch sẽ được ăn các của lễ đó. 12 Ta ban cho ngươi tất cả dầu tốt nhất, tất cả rượu ngon nhất, và lúa gạo ngon nhất, tức những của lễ đầu mùa người ta đem đến dâng lên Chúa. 13 Những hoa quả đầu mùa trong ruộng vườn của họ, mà họ mang đến dâng lên Chúa, Ta ban cho ngươi. Ai trong nhà ngươi tinh sạch sẽ được ăn những lễ vật đó. 14 Tất cả những vật gì dân I-sơ-ra-ên biệt riêng ra thánh và mang đến dâng, Ta ban cho ngươi. 15 Tất cả những con đầu lòng, dù là con của người ta hay con của súc vật, được đem dâng lên Chúa, sẽ được ban cho ngươi. Nhưng ngươi phải chuộc lại con đầu lòng của người ta, và ngươi phải chuộc lại con đầu lòng của các thú vật không thanh sạch. 16 Giá để chuộc chúng như sau: những con tuổi được một tháng trở lên, ngươi sẽ ấn định tiền chuộc cho chúng là năm mươi lăm gờ-ram[a] bạc, theo cân lượng của nơi thánh, tức hai mươi ghê-ra.[b] 17 Nhưng ngươi không được chuộc lại con bò đầu lòng, con chiên đầu lòng, và con dê đầu lòng; chúng sẽ là những con vật thánh. Ngươi sẽ rảy máu chúng trên bàn thờ, rồi thiêu mỡ chúng thành khói có mùi thơm dâng lên Chúa. 18 Nhưng thịt chúng sẽ thuộc về ngươi; chẳng hạn như cái ức đã được nâng cao lên dâng và cái đùi phải, chúng đều thuộc về ngươi. 19 Tất cả của lễ thánh dân I-sơ-ra-ên dâng lên Chúa, Ta ban cho ngươi, cho các con trai và các con gái ngươi như một quy luật vĩnh viễn. Ðó là một giao ước bằng muối trước mặt Chúa, có hiệu lực vĩnh viễn, dành cho ngươi và dòng dõi ngươi.”

20 Bấy giờ Chúa phán với A-rôn, “Khi họ vào thừa hưởng đất hứa, ngươi sẽ chẳng có phần sản nghiệp nào; ngươi sẽ không được chia phần nào với họ. Ta là phần của ngươi và là sản nghiệp của ngươi giữa dân I-sơ-ra-ên. 21 Về phần người Lê-vi, Ta ban cho họ mọi của dâng một phần mười của dân I-sơ-ra-ên, để trả công cho họ phục vụ, tức công phục dịch những công việc ở Lều Hội Kiến. 22 Từ nay dân I-sơ-ra-ên sẽ không đến gần Lều Hội Kiến nữa, bằng không họ sẽ mắc tội và phải chết; 23 nhưng người Lê-vi sẽ phục vụ những công việc ở Lều Hội Kiến và sẽ chịu trách nhiệm về những lầm lỗi mình. Ðiều đó sẽ là một quy luật vĩnh viễn trải qua mọi thế hệ của các ngươi. Như vậy họ sẽ không có phần sản nghiệp trong đất hứa giữa dân I-sơ-ra-ên, 24 vì Ta cho người Lê-vi của dâng một phần mười mà dân I-sơ-ra-ên biệt riêng ra dâng lên Chúa để họ làm sản nghiệp. Vì thế Ta bảo: họ sẽ không có phần sản nghiệp nào ở giữa dân I-sơ-ra-ên.”

Một Phần Mười của Một Phần Mười

25 Bấy giờ Chúa phán với Môi-se, 26 “Ngươi hãy nói với người Lê-vi rằng: Khi anh em nhận của một phần mười nơi dân I-sơ-ra-ên để làm sản nghiệp, anh em phải biệt riêng ra một phần để dâng lên Chúa, tức một phần mười của một phần mười. 27 Của lễ anh em dâng sẽ được xem như một lễ vật, tựa như lúa thóc trích dâng từ sân đập lúa, hoặc rượu mới trích dâng từ thùng rượu ở bồn ép nho. 28 Như thế anh em sẽ biệt riêng ra một của lễ để dâng lên Chúa, lấy từ tất cả của dâng một phần mười mà anh em đã nhận được từ dân I-sơ-ra-ên; anh em sẽ lấy lễ vật dâng lên Chúa đó mà trao cho Tư Tế A-rôn. 29 Trong tất cả lễ vật anh em nhận được, anh em hãy lựa ra phần tốt nhất, biệt riêng ra thánh, mà dâng lên Chúa.

30 Ngươi hãy bảo họ: Sau khi anh em đã biệt riêng ra thánh phần tốt nhất thì phần còn lại sẽ thuộc về anh em, tức người Lê-vi, giống như hoa lợi nhận được từ sân đập lúa, hoặc hoa lợi nhận được từ bồn ép nho. 31 Anh em có thể ăn các hoa lợi đó nơi nào cũng được, anh em và gia đình anh em, vì đó là thù lao cho anh em đã phục vụ ở Lều Hội Kiến. 32 Sau khi anh em đã trích dâng phần tốt nhất, anh em sẽ không lo bị mắc tội nữa. Vậy chớ phạm đến những lễ vật thánh của dân I-sơ-ra-ên, kẻo anh em phải chết.”

Footnotes:

  1. Dân Số 18:16 nt: 5 sê-ken
  2. Dân Số 18:16 nt: 20 ghê-ra
Bản Dịch 2011 (BD2011)

Copyright © 2011 by Bau Dang

I Phi-rơ 1:3-5 Bản Dịch 2011 (BD2011)

Hy Vọng Sống

Chúc tụng Ðức Chúa Trời và Cha của Ðức Chúa Jesus Christ, Chúa chúng ta, Ðấng vì lòng thương xót lớn lao của Ngài đã cho chúng ta được tái sinh để có một hy vọng sống, qua sự sống lại từ cõi chết của Ðức Chúa Jesus Christ, để hưởng một cơ nghiệp không hư mất, không ô nhơ, và không phai tàn, được để dành trên thiên đàng cho anh chị em, những người nhờ đức tin được quyền năng Ðức Chúa Trời bảo vệ, để hưởng ơn cứu rỗi sẵn sàng được lộ ra trong thời kỳ cuối cùng.

Bản Dịch 2011 (BD2011)

Copyright © 2011 by Bau Dang

Ê-phê-sô 1:13-14 Bản Dịch 2011 (BD2011)

13 Cũng trong Ðấng Christ, khi anh chị em nghe sứ điệp của chân lý, là Tin Mừng cứu rỗi, anh chị em tin thờ Ngài, và đã được đóng ấn bằng Ðức Thánh Linh, Ðấng Ngài đã hứa ban. 14 Ðức Thánh Linh là bảo chứng cho cơ nghiệp của chúng ta, trong khi chờ đợi những người thuộc về Ngài được cứu chuộc, để ca ngợi vinh hiển Ngài.

Bản Dịch 2011 (BD2011)

Copyright © 2011 by Bau Dang

I Cô-rinh-tô 15:50-56 Bản Dịch 2011 (BD2011)

50 Thưa anh chị em, điều tôi muốn nói là thế nầy: xác thịt và máu huyết không thể thừa hưởng vương quốc Ðức Chúa Trời; những gì hay hư nát không thể thừa hưởng những gì bất diệt.

51 Nầy, tôi báo cho anh chị em một huyền nhiệm: không phải tất cả chúng ta sẽ ngủ hết, nhưng tất cả chúng ta sẽ được biến hóa, 52 trong giây lát, trong chớp mắt, lúc tiếng kèn chót thổi, vì tiếng kèn sẽ thổi vang, bấy giờ những người chết sẽ sống lại để hưởng sự bất diệt, và chúng ta sẽ được biến hóa. 53 Vì thân thể sẽ hư nát nầy phải mặc lấy thân thể bất diệt, và thân thể sẽ chết nầy phải mặc lấy thân thể bất tử. 54 Khi thân thể sẽ hư nát nầy mặc lấy thân thể bất diệt, và thân thể sẽ chết nầy mặc lấy thân thể bất tử, thì lời đã chép sẽ được ứng nghiệm,

“Tử thần đã bị sự đắc thắng nuốt mất.”[a]
55 “Hỡi tử thần, chiến thắng của ngươi đâu?
Hỡi tử thần, nọc độc của ngươi đâu?”[b]

56 Nọc độc của tử thần là tội lỗi, và sức mạnh của tội lỗi là Luật Pháp,

Footnotes:

  1. I Cô-rinh-tô 15:54 Ê-sai 25:8
  2. I Cô-rinh-tô 15:55 Ô-sê 13:14 LXX
Bản Dịch 2011 (BD2011)

Copyright © 2011 by Bau Dang

  Back

1 of 1

You'll get this book and many others when you join Bible Gateway Plus. Learn more

Viewing of
Cross references
Footnotes