A A A A A
Bible Book List

II Sa-mu-ên 5:1-16 Bản Dịch 2011 (BD2011)

Ða-vít Trị Vì Trên Toàn Thể I-sơ-ra-ên

Bấy giờ tất cả các chi tộc của I-sơ-ra-ên đến với Ða-vít tại Hếp-rôn và nói, “Chúng tôi đều là cốt nhục của ông. Trước kia khi Sau-lơ làm vua trị vì trên chúng tôi, chính ông là người đã lãnh đạo chúng tôi ra trận và trở về. Chúa đã phán với ông rằng, ‘Ngươi sẽ chăn dắt I-sơ-ra-ên dân Ta và trị vì trên cả I-sơ-ra-ên.’”

Vậy tất cả các trưởng lão của I-sơ-ra-ên đến với vua tại Hếp-rôn. Vua Ða-vít lập một giao ước với họ tại Hếp-rôn trước mặt Chúa, và họ xức dầu cho Ða-vít làm vua trên I-sơ-ra-ên.

Ða-vít được ba mươi tuổi khi bắt đầu trị vì, và ông trị vì bốn mươi năm. Ông trị vì người Giu-đa tại Hếp-rôn được bảy năm sáu tháng, và ông trị vì trên cả I-sơ-ra-ên và Giu-đa tại Giê-ru-sa-lem ba mươi ba năm.

Chiếm Thành Giê-ru-sa-lem

Vua và quân đội của ông đi lên tấn công Giê-ru-sa-lem, thành của dân Giê-bu-si, tức dân bản xứ; đó là những kẻ đã nói với Ða-vít, “Ngươi chớ lên đây. Ngay cả những người mù và những người què ở đây cũng đủ sức đánh lui ngươi,” bởi họ nghĩ rằng “Ða-vít không thể nào vào thành ấy được.”

Tuy nhiên Ða-vít đã chiếm được chiến lũy của Si-ôn, về sau nơi ấy trở thành Thành Ða-vít.

Số là hôm đó Ða-vít nói, “Ai vào thành và đánh hạ được những kẻ què và kẻ mù của dân Giê-bu-si – những kẻ lòng Ða-vít ghét– thì hãy trèo theo ống cống dẫn nước mà vào.” Bởi đó nên có câu, “Kẻ mù và kẻ què sẽ không được vào cung điện.”[a]

Vậy Ða-vít ở trong thành kiên cố và đặt tên là Thành Ða-vít. Kế đó Ða-vít cho xây các công sự phòng thủ xung quanh thành, từ các chiến lũy vào trong. 10 Vậy Ða-vít càng ngày càng cường thạnh, vì Chúa, Ðức Chúa Trời các đạo quân, ở với ông.

11 Lúc ấy Hi-ram vua Ty-rơ sai các sứ giả đến ra mắt Ða-vít. Họ mang theo gỗ bá hương, các thợ mộc và các thợ nề, và họ xây cho Ða-vít một cung điện. 12 Bấy giờ Ða-vít biết Chúa đã lập ông làm vua trên I-sơ-ra-ên, và vì cớ dân Ngài, tức dân I-sơ-ra-ên, nên Ngài đã làm cho vương quyền của ông được tôn trọng.

13 Sau khi rời Hếp-rôn và đến Giê-ru-sa-lem, Ða-vít cưới thêm các vợ và các cung phi. Họ đã sinh cho Ða-vít thêm các con trai và con gái. 14 Ðây là tên các con sinh cho Ða-vít tại Giê-ru-sa-lem: Sam-mu-a,[b] Sô-báp, Na-than, Sa-lô-môn, 15 Íp-ha, Ê-li-su-a, Nê-phéc, Gia-phia, 16 Ê-li-sa-ma, Ê-li-a-đa, và Ê-li-phê-lét.

Footnotes:

  1. II Sa-mu-ên 5:8 ctd: nhà
  2. II Sa-mu-ên 5:14 Trong 1 Sử 3:5 thì gọi là Si-mê-a
Bản Dịch 2011 (BD2011)

Copyright © 2011 by Bau Dang

I Sa-mu-ên 16:11-13 Bản Dịch 2011 (BD2011)

11 Sa-mu-ên hỏi Giê-se, “Có phải đây là tất cả các con trai của ông không?”

Ông đáp, “Thưa tôi còn một cháu út nữa, nhưng cháu nó đang chăn chiên.”

Sa-mu-ên nói với Giê-se, “Xin ông cho người ra kêu cậu ấy về. Chúng ta sẽ không ngồi xuống ăn trước khi cậu ấy đến đây.”

12 Vậy ông sai người ra đồng kêu chàng về. Vả, chàng là một thanh niên có da mặt hồng hào, đôi mắt tinh anh, và diện mạo dễ nhìn. Chúa bảo, “Hãy đứng dậy, xức dầu cho nó. Nó chính là người Ta chọn.”

13 Bấy giờ Sa-mu-ên lấy chiếc sừng đựng dầu xức cho chàng giữa sự chứng kiến của các anh chàng. Từ ngày đó trở đi Thần của Chúa ngự trên Ða-vít một cách mạnh mẽ. Sau đó Sa-mu-ên đứng dậy và trở về Ra-ma.

Bản Dịch 2011 (BD2011)

Copyright © 2011 by Bau Dang

II Sa-mu-ên 5:17-25 Bản Dịch 2011 (BD2011)

Dân Phi-li-tin Bị Bại Trận

17 Khi ấy dân Phi-li-tin nghe rằng Ða-vít đã được xức dầu làm vua trên I-sơ-ra-ên, quân Phi-li-tin bèn kéo hết lực lượng lên để vây bắt Ða-vít. Nghe tin ấy Ða-vít đi xuống chiến lũy. 18 Quân Phi-li-tin kéo đến và bủa ra trong Thung Lũng Rê-pha-im.

19 Ða-vít cầu hỏi ý Chúa, “Con có nên đi lên đương đầu với quân Phi-li-tin không? Ngài sẽ phó quân Phi-li-tin vào tay con không?”

Chúa trả lời ông, “Ngươi hãy đi lên. Ta chắc chắn sẽ trao quân Phi-li-tin vào tay ngươi.”

20 Vậy Ða-vít đến một nơi gọi là Ba-anh Pê-ra-xim, và Ða-vít đánh chúng đại bại tại đó. Ông nói, “Chúa đã đánh tan quân thù của tôi như thể nước bị vỡ bờ.” Vì thế ông gọi chỗ đó là Ba-anh Pê-ra-xim.[a] 21 Chúng bỏ các thần tượng của chúng ở đó mà chạy cứu mạng. Ða-vít và quân lính của ông cướp lấy và mang đi.

22 Sau đó quân Phi-li-tin tái phối trí và kéo lên một lần nữa. Chúng bủa ra khắp Thung Lũng Rê-pha-im.

23 Ða-vít cầu hỏi ý Chúa và Ngài phán, “Ngươi chớ đi lên đối đầu với chúng, nhưng hãy đi vòng ra phía sau và đánh bọc hậu chúng. Ngươi hãy xông tới tấn công chúng ở phía trước nương dâu. 24 Khi ngươi nghe trên ngọn các cây dâu có âm thanh như tiếng của đoàn quân xung trận, thì hãy lập tức tấn công. Vì Chúa sẽ đi trước ngươi và tấn công trại quân Phi-li-tin.”

25 Ða-vít làm như vậy, y như Chúa đã truyền cho ông. Ông đánh đuổi quân Phi-li-tin chạy về xứ của họ, từ Ghê-ba cho đến Ghê-xe.

Footnotes:

  1. II Sa-mu-ên 5:20 Nghĩa là Ba-anh bị tan nát
Bản Dịch 2011 (BD2011)

Copyright © 2011 by Bau Dang

Thánh Thi 68 Bản Dịch 2011 (BD2011)

Ðức Chúa Trời của Nơi Thánh

Thơ của Ða-vít

Cho Trưởng Ban Nhạc

68 Nguyện Ðức Chúa Trời trỗi dậy;
Nguyện những kẻ chống nghịch Ngài phải tản lạc;
Nguyện những kẻ ghét Ngài phải chạy trốn trước mặt Ngài.
Như khói bị tan biến thể nào,
Nguyện chúng cũng bị tan đi thể ấy;
Như sáp bị tan chảy trước ngọn lửa thể nào,
Nguyện những kẻ ác cũng bị diệt mất trước mặt Ðức Chúa Trời thể ấy.
Nguyện những người ngay lành sẽ hân hoan,
Nguyện họ sẽ vui vẻ trước mặt Ðức Chúa Trời;
Thật vậy nguyện họ sẽ vui vẻ và mừng rỡ.

Hãy ca ngợi Ðức Chúa Trời;
Hãy hát ca chúc tụng danh Ngài;
Khá tôn ngợi Ðấng ngự trên các tầng mây;[a]
Danh Ngài là Chúa;
Khá reo vui trước mặt Ngài.
Cha của kẻ mồ côi,
Ðấng binh vực người góa bụa,
Chính là Ðức Chúa Trời,
Ðấng ngự trong nơi thánh của Ngài.
Ðức Chúa Trời là Ðấng làm cho kẻ cô đơn có mái ấm gia đình;
Ngài dẫn đưa những kẻ bị tù đày đến nơi sung mãn;
Còn những kẻ bội nghịch phải ở trong xứ khô cằn.

Ðức Chúa Trời ôi, khi Ngài đi ra trước mặt con dân Ngài,
Khi Ngài đi ngang qua sa mạc, (Sê-la)
Ðất rúng động, các tầng trời ào ạt đổ cơn mưa,
Trước mặt Ðức Chúa Trời, Thần[b] của Núi Si-nai,
Trước mặt Ðức Chúa Trời, Thần của I-sơ-ra-ên.
Ðức Chúa Trời ôi, Ngài đã ban mưa xuống cách dồi dào,
Khi sản nghiệp của Ngài bị khô cằn, Ngài đã bồi bổ nó lại.
10 Con dân Ngài đã định cư trong sản nghiệp đó;
Ðức Chúa Trời ôi, do lòng tốt của Ngài, Ngài đã chu cấp cho những người nghèo khó.

11 Khi Chúa ban lệnh,
Những kẻ loan truyền tin mừng ra đi đông vô số;
Họ báo rằng,
12 “Các vua của các đạo quân đã bỏ chạy. Tất cả đã chạy trốn.”
Những phụ nữ ở nhà đều sẽ được chia các chiến lợi phẩm,
13 Dù họ[c] chỉ nằm nghỉ ở giữa các trại quân.
Kìa họ[d] trông giống như những cánh bồ câu bọc bạc,
Với bộ lông như vàng ròng lóng lánh.
14 Khi Ðấng Toàn Năng đánh văng các vua trong xứ,
Thật như tuyết rơi tơi tả ở Xanh-môn.

15 Núi Ba-san là núi của Ðức Chúa Trời;
Rặng Núi Ba-san quả có nhiều đỉnh cao chót vót.
16 Hỡi những rặng núi cao có nhiều đỉnh,
Tại sao các ngươi ganh tị với ngọn núi Ðức Chúa Trời đã chọn để làm nơi Ngài ngự?
Thật vậy Chúa sẽ ngự tại đó đến đời đời.

17 Các xe chiến mã của Ðức Chúa Trời nhiều đến hằng vạn, thật là hằng ngàn và hằng vạn;
Chúa từ Si-nai đến ngự vào nơi thánh của Ngài ở giữa chúng.
18 Ngài đã lên nơi cao,
Ngài dẫn theo đoàn tù binh bị bắt đem đi lưu đày;
Ngài đã nhận những lễ vật của loài người,
Ngay cả những lễ vật của những kẻ bội nghịch,
Ðể chứng tỏ rằng Chúa Ðức Chúa Trời[e] cũng ở với chúng ta tại đó.
19 Tôn ngợi Chúa, Ðấng hằng ngày cưu mang chúng ta;
Ðức Chúa Trời là Ðấng Giải Cứu chúng ta. (Sê-la)
20 Ðức Chúa Trời của chúng ta là Ðức Chúa Trời giải cứu;
Nhờ Chúa Hằng Hữu,[f] chúng ta được thoát chết.

21 Chắc chắn Ðức Chúa Trời sẽ đạp nát đầu kẻ thù của Ngài,
Tức đầu tóc của những kẻ cứ miệt mài trong tội ác.
22 Chúa phán, “Từ Ba-san, Ta sẽ đem chúng về;
Từ các đại dương sâu thẳm, Ta sẽ mang chúng về,
23 Ðể các ngươi có thể giẫm chân trên máu kẻ thù của mình,
Ngay cả lưỡi của chó các ngươi cũng sẽ được phần trên quân thù của các ngươi.”

24 Ðức Chúa Trời ôi, ước chi mọi người sẽ chứng kiến lễ nghinh rước Ngài,
Tức lễ nghinh rước Ðức Chúa Trời của con, Vua của con, vào trong đền thánh.
25 Ca đoàn đi trước ngợi ca, ban nhạc theo sau trỗi nhạc,
Ở giữa là đoàn thiếu nữ đánh trống lục lạc nhịp nhàng.
26 Hãy chúc tụng Ðức Chúa Trời giữa những đoàn người đông đúc dự lễ,
Hãy tôn ngợi Chúa, nguồn cội của I-sơ-ra-ên.
27 Kìa là Bên-gia-min, chi tộc trẻ nhất, đang dẫn đầu;
Kìa là các nhà quyền quý của Giu-đa và phái đoàn của họ;
Kìa là các nhà quyền quý của Xê-bu-lun và các nhà quyền quý của Náp-ta-li.

28 Ðức Chúa Trời ôi, xin thể hiện quyền năng của Ngài;[g]
Ðức Chúa Trời ôi, xin bày tỏ sức mạnh của Ngài,
Như Ngài đã từng làm cho chúng con khi trước.
29 Vì đền thờ Ngài tọa lạc tại Giê-ru-sa-lem,
Nên các vua sẽ đem các lễ vật đến dâng lên Ngài tại đó.
30 Cầu xin Ngài trách phạt bầy thú hoang trong đám lau sậy,
Cùng đám bò đực ở giữa đàn bò con của các dân.
Xin Ngài bắt chúng phải đem bạc nén đến quỳ dâng;
Còn những dân hiếu chiến, xin Ngài làm cho chúng bị tản lạc khắp nơi trên đất.
31 Những đoàn người quyền thế sẽ từ Ai-cập đến thờ phượng;
Người Ê-thi-ô-pi[h] sẽ sớm đưa tay lên hướng về Ðức Chúa Trời.

32 Hỡi tất cả quốc gia trên thế giới, hãy ca tụng Ðức Chúa Trời;
Hãy ca ngợi Chúa, (Sê-la)
33 Ðấng ngự trên nơi chí cao của các tầng trời,
Tức các tầng trời đã được dựng nên từ thời thái cổ;
Kìa, Ngài cất tiếng nói,
Giọng Ngài thật oai hùng.
34 Khá biết rằng mọi quyền lực đều thuộc về Ðức Chúa Trời;
Nguyện uy nghi Ngài tỏa rạng trên I-sơ-ra-ên,
Và quyền năng Ngài đầy dẫy khắp không trung.
35 Ðức Chúa Trời ôi, trong đền thánh Ngài, Ngài đáng kinh hãi biết bao!
Chính Ðức Chúa Trời của I-sơ-ra-ên đã ban sức mạnh và quyền lực cho con dân Ngài.
Tôn ngợi Ðức Chúa Trời!

Footnotes:

  1. Thánh Thi 68:4 Có bản chép, “.. cỡi trên các tầng mây” hay “Hãy xây một đại lộ cho Ðấng cỡi ngựa (hoặc lạc đà) băng qua sa mạc.”
  2. Thánh Thi 68:8 ctd: Ðức Chúa Trời, Thượng Ðế, Thiên Chúa
  3. Thánh Thi 68:13 nt: các người
  4. Thánh Thi 68:13 ctd: các người
  5. Thánh Thi 68:18 nt: Ya Elohim
  6. Thánh Thi 68:20 nt: Yahweh Adonai
  7. Thánh Thi 68:28 Một số bản Hebrew ghi, “Ðức Chúa Trời của bạn đã ra lịnh ban cho bạn sức mạnh.”
  8. Thánh Thi 68:31 ctd: từ xứ Cút
Bản Dịch 2011 (BD2011)

Copyright © 2011 by Bau Dang

II Sa-mu-ên 6:1-11 Bản Dịch 2011 (BD2011)

Rước Rương Giao Ước về Giê-ru-sa-lem

Ða-vít lại tập họp tất cả quân tinh nhuệ của I-sơ-ra-ên; tổng cộng được ba mươi ngàn người. Ða-vít đứng dậy và đi với tất cả những người đang có mặt với ông đến Ba-a-la trong miền Giu-đa để rước Rương của Ðức Chúa Trời, Rương được gọi bằng danh của Chúa các đạo quân, Ðấng ngự giữa các chê-ru-bim. Họ để Rương của Ðức Chúa Trời trên một cỗ xe mới, rồi từ nhà A-bi-na-đáp ở trên đồi mà chở Rương ấy ra đi. U-xa và A-hi-ô, hai con trai của A-bi-na-đáp, dẫn cỗ xe mới. Họ chở Rương từ nhà A-bi-na-đáp ở trên đồi ra đi và họ đi theo hộ tống Rương của Ðức Chúa Trời. Có A-hi-ô đi phía trước Rương. Ða-vít và toàn thể nhà I-sơ-ra-ên vui mừng dùng đủ loại nhạc khí mà tấu lên trước mặt Chúa. Ðó là những nhạc khí làm bằng gỗ trắc bá, các hạc cầm, các loại đàn, các trống lục lạc, các chập chõa, và các khánh chiêng.

Khi họ đến sân đập lúa của Na-côn, U-xa đã đưa tay ra đỡ lấy Rương của Ðức Chúa Trời, vì con bò kéo xe bị trượt chân. Chúa nổi giận với U-xa. Vì lỗi ấy Ðức Chúa Trời đánh ông tại đó, và ông đã ngã chết ngay bên cạnh Rương của Ðức Chúa Trời.

Bấy giờ Ða-vít cảm thấy bất mãn, vì Chúa đã nổi giận và giết chết U-xa. Ông gọi chỗ đó là “Bộc Giận với U-xa” cho đến ngày nay. Ngày hôm đó Ða-vít đâm ra sợ Chúa, ông nói, “Làm sao tôi dám đem Rương của Chúa về với tôi?” 10 Vì thế Ða-vít không mang Rương của Chúa về với ông trong Thành Ða-vít nữa, nhưng Ða-vít cho đổi hướng và đem Rương gởi nơi nhà của Ô-bết Ê-đôm người Ghít-ti. 11 Rương của Chúa ở trong nhà Ô-bết Ê-đôm người Ghít-ti được ba tháng. Chúa ban phước cho Ô-bết Ê-đôm và mọi người trong gia đình ông.

Bản Dịch 2011 (BD2011)

Copyright © 2011 by Bau Dang

I Sử Ký 13 Bản Dịch 2011 (BD2011)

Rước Rương Giao Ước từ Ki-ri-át Giê-a-rim về Giê-ru-sa-lem

13 Ða-vít tham khảo ý kiến các chỉ huy trưởng hàng ngàn quân, các chỉ huy trưởng hàng trăm quân, và từng vị lãnh đạo. Sau đó Ða-vít nói với toàn thể hội chúng I-sơ-ra-ên, “Nếu quý vị thấy là việc tốt, và nếu đây là ý Chúa, Ðức Chúa Trời của chúng ta, chúng ta sẽ sai người ra đi, mời đồng bào chúng ta trong toàn cõi I-sơ-ra-ên, kể cả các tư tế và những người Lê-vi ở trong các thành có đồng cỏ chung quanh, để họ đến hiệp với chúng ta, rồi chúng ta sẽ cùng nhau rước Rương của Ðức Chúa Trời chúng ta về, vì từ thời của Vua Sau-lơ đến nay, chúng ta không quan tâm gì đến việc nầy.” Toàn thể hội chúng tán thành làm điều đó, vì điều đó đẹp ý mọi người.

Vậy Ða-vít triệu tập toàn dân I-sơ-ra-ên từ Si-hơ ở Ai-cập cho đến Lê-bô Ha-mát để rước Rương của Ðức Chúa Trời từ Ki-ri-át Giê-a-rim về. Ða-vít và toàn dân I-sơ-ra-ên đi lên Ba-a-la, tức Ki-ri-át Giê-a-rim, trong lãnh thổ của Giu-đa, để rước Rương của Ðức Chúa Trời, Chúa, Ðấng ngự giữa các chê-ru-bim, nơi danh Ngài được cầu khẩn. Họ chở Rương của Ðức Chúa Trời trên một cỗ xe mới, từ nhà của A-bi-na-đáp ra đi; có U-xa và A-hi-ô dẫn xe. Ða-vít và toàn dân I-sơ-ra-ên vui mừng nhảy múa hết sức trước thánh nhan của Ðức Chúa Trời giữa tiếng ca hát, tiếng đàn lia, tiếng hạc cầm, tiếng trống lục lạc, tiếng khánh chiêng, và tiếng kèn.

Khi họ đến sân đập lúa ở Ki-đôn, U-xa đưa tay ra đỡ Rương Thánh, vì đôi bò sụp bước. 10 Cơn giận của Chúa nổi bừng lên đối với U-xa. Ngài đánh ông, vì ông đã đưa tay ra đụng vào Rương Thánh, và ông chết ngay tại chỗ trước mặt Ðức Chúa Trời. 11 Ða-vít lấy làm bất mãn vì Chúa đã đánh U-xa chết tức khắc như vậy. Vì thế nơi đó được gọi là Pê-rê U-xa cho đến ngày nay. 12 Ngày hôm đó Ða-vít khiếp sợ Ðức Chúa Trời. Ông nói, “Làm sao tôi có thể rước Rương của Ðức Chúa Trời về với tôi được?” 13 Vậy Ða-vít không tiếp tục rước Rương Thánh về với ông trong Thành Ða-vít, thay vào đó ông đưa Rương Thánh đến nhà của Ô-bết Ê-đôm người Ghít-ti. 14 Rương của Ðức Chúa Trời ở với gia đình của Ô-bết Ê-đôm, ngự trong nhà của ông ba tháng. Chúa ban phước cho gia đình Ô-bết Ê-đôm và mọi vật thuộc về ông.

Bản Dịch 2011 (BD2011)

Copyright © 2011 by Bau Dang

Xuất Hành 25:10-22 Bản Dịch 2011 (BD2011)

Rương Giao Ước

10 Chúng sẽ làm một cái rương bằng gỗ si-tim. Rương ấy sẽ dài một mét hai mươi lăm, rộng bảy tấc rưỡi, và cao bảy tấc rưỡi.[a] 11 Ngươi sẽ bọc rương ấy bằng vàng ròng; ngươi sẽ bọc rương bằng vàng cả trong lẫn ngoài; ngươi cũng hãy làm trên rương ấy một đường viền chung quanh bằng vàng. 12 Ngươi hãy đúc bốn khoen bằng vàng và gắn vào bốn chân rương, hai cái bên nầy và hai cái bên kia. 13 Ngươi cũng hãy làm các đòn khiêng bằng gỗ si-tim, rồi bọc vàng các đòn khiêng ấy. 14 Ngươi hãy xỏ các đòn khiêng vào các khoen gắn ở hai bên để khiêng rương. 15 Các đòn khiêng sẽ để luôn trong khoen rương, và không được rút ra. 16 Sau đó ngươi sẽ đặt vào rương các Bảng Giao Ước mà Ta sẽ ban cho ngươi.

17 Ngươi hãy làm một Nắp Thi Ân[b] bằng vàng ròng, dài một mét hai mươi lăm, và rộng bảy tấc rưỡi. [c] 18 Ngươi hãy làm hai chê-ru-bim bằng vàng dát mỏng ở hai đầu nắp. 19 Ngươi hãy làm một chê-rúp [d] ở đầu nầy và một chê-rúp ở đầu kia. Ngươi sẽ làm hai chê-ru-bim dính liền với Nắp Thi Ân trên hai đầu nắp. 20 Các chê-ru-bim sẽ dang cánh ra ở trên nắp, dùng đôi cánh mình che phủ Nắp Thi Ân. Hai chê-ru-bim đó sẽ đối diện nhau, nhưng mặt của hai chê-ru-bim sẽ nhìn vào nắp. 21 Ngươi sẽ đậy Nắp Thi Ân đó trên rương, và ngươi sẽ đặt vào trong rương các Bảng Giao Ước mà Ta sẽ ban cho ngươi. 22 Ta sẽ gặp ngươi tại đó. Từ trên Nắp Thi Ân, tức từ giữa hai chê-ru-bim ở trên Rương Giao Ước, Ta sẽ truyền cho ngươi mọi mạng lịnh cho dân I-sơ-ra-ên.

Footnotes:

  1. Xuất Hành 25:10 nt: dài 2,5 cubits, rộng 1,5 cubit, cao 1,5 cubit. Một cubit dài khoảng nửa mét
  2. Xuất Hành 25:17 nt: kapporeth, có hai nghĩa: che đậy và chuộc tội
  3. Xuất Hành 25:17 nt: dài 2,5 cubits, rộng 1,5 cubit
  4. Xuất Hành 25:19 Hebrew: cherub (số ít), cherubim (số nhiều)
Bản Dịch 2011 (BD2011)

Copyright © 2011 by Bau Dang

Dân Số 4:5-6 Bản Dịch 2011 (BD2011)

Mỗi khi nhổ trại ra đi, A-rôn và các con trai ông sẽ đi vào và gỡ tấm màn ngăn đôi trong Nơi Thánh xuống, rồi dùng nó bao Rương Giao Ước lại. Kế đến họ sẽ phủ lên trên một tấm đậy làm bằng da thú thượng hạng,[a] rồi phủ bên trên tấm đậy ấy một tấm vải xanh dương; sau đó họ xỏ các đòn khiêng vào.

Footnotes:

  1. Dân Số 4:6 Nguyên liệu làm tấm đậy nầy trong Hebrew trong rõ nghĩa; có thể là da dê, cũng có thể là da cá heo.
Bản Dịch 2011 (BD2011)

Copyright © 2011 by Bau Dang

Dân Số 4:15 Bản Dịch 2011 (BD2011)

15 Sau khi A-rôn và các con ông hoàn tất công việc che phủ Nơi Thánh và tất cả khí dụng của Nơi Thánh, lúc sắp sửa nhổ trại ra đi, bấy giờ các con cháu Kê-hát mới đến để mang các vật thánh ấy đi. Tuy nhiên họ không được phép chạm vào bất cứ vật thánh nào, nếu không họ sẽ chết. Ðó là những vật dụng của Lều Hội Kiến mà các con cháu Kê-hát có nhiệm vụ mang đi.

Bản Dịch 2011 (BD2011)

Copyright © 2011 by Bau Dang

II Sa-mu-ên 6:12-23 Bản Dịch 2011 (BD2011)

12 Có người đến thuật cho Vua Ða-vít hay rằng, “Chúa đã ban phước cho gia đình Ô-bết Ê-đôm và tất cả những gì thuộc về ông ấy, vì Rương của Ðức Chúa Trời đang ở đó.” Vậy Ða-vít đến và rước Rương của Ðức Chúa Trời từ nhà của Ô-bết Ê-đôm vào Thành Ða-vít trong niềm vui mừng.

13 Vả, khi những người khiêng Rương của Chúa vừa đi được sáu bước thì Ða-vít dâng một con bò và một con chiên mập làm sinh tế. 14 Ða-vít mặc một chiếc ê-phót bằng vải gai, rồi Ða-vít vui mừng nhảy nhót hết lòng hết sức trước mặt Chúa. 15 Vậy Ða-vít và toàn thể nhà I-sơ-ra-ên mang Rương của Chúa lên, với tiếng reo mừng hòa lẫn với tiếng kèn trỗi lên vang dội. 16 Khi Rương của Chúa vào trong Thành Ða-vít, Mi-khanh con gái của Sau-lơ nhìn qua cửa sổ và thấy Vua Ða-vít đang nhảy nhót quay cuồng trước mặt Chúa, lòng bà thầm khinh ông. 17 Vậy họ mang Rương của Chúa vào và đặt Rương ấy vào chỗ Ða-vít đã xây sẵn bên trong Lều Tạm. Kế đến Ða-vít dâng các của lễ thiêu và các của lễ cầu an lên trước mặt Chúa. 18 Sau khi Ða-vít dâng các của lễ thiêu và các của lễ cầu an, ông nhân danh Chúa các đạo quân mà chúc phước cho dân. 19 Kế đến ông phát cho mọi người, tất cả những ai trong đám đông của người I-sơ-ra-ên hôm đó, bất luận nam hay nữ, mỗi người một ổ bánh, một miếng thịt, và một bánh nho khô. Sau đó mọi người ra về, ai về nhà nấy.

20 Ða-vít trở về nhà ông để chúc phước cho gia đình ông. Nhưng Mi-khanh con gái Sau-lơ đi ra đón Ða-vít và nói, “Hôm nay vua I-sơ-ra-ên trông thật vẻ vang ghê! Bữa nay nhà vua đã để thân thể lộ liễu trước mặt bọn nữ tỳ, chẳng khác gì một tiện dân phô bày da thịt mà không biết xấu hổ.”

21 Ða-vít nói với Mi-khanh, “Vì trước mặt Chúa, Ðấng đã chọn anh thay vì cha em và toàn thể nhà người, và lập anh làm người cai trị trên dân Chúa, tức dân I-sơ-ra-ên, nên anh không ngại mà vui mừng nhảy nhót trước mặt Chúa. 22 Anh sẽ còn hạ mình hơn thế nữa, và anh sẽ xem mình chẳng ra gì trước mặt Ngài. Còn về mấy đứa nữ tỳ em nói đó, anh biết họ vẫn còn tôn trọng anh.” 23 Vậy Mi-khanh con gái Sau-lơ không có con cho đến ngày bà qua đời.

Bản Dịch 2011 (BD2011)

Copyright © 2011 by Bau Dang

I Sử Ký 15-16 Bản Dịch 2011 (BD2011)

Chuẩn Bị Cho Việc Rước Rương Giao Ước vào Giê-ru-sa-lem

15 Ða-vít xây các cung điện cho ông ở trong Thành Ða-vít. Ông chuẩn bị một nơi để đặt Rương của Ðức Chúa Trời và dựng một cái lều cho Rương ấy. Bấy giờ Ða-vít nói, “Không ai được khiêng Rương của Ðức Chúa Trời, ngoại trừ người Lê-vi, vì Chúa đã chọn họ để khiêng Rương của Ðức Chúa Trời và phục vụ Ngài đời đời.”

Ða-vít triệu tập toàn dân I-sơ-ra-ên về Giê-ru-sa-lem để rước Rương của Chúa vào trong chỗ đã chuẩn bị cho Rương Thánh.

Ða-vít triệu tập các con cháu của A-rôn và người Lê-vi lại.

Trong vòng con cháu của Kê-hát có U-ri-ên làm thủ lãnh, với một trăm hai mươi người bà con của ông.
Trong vòng con cháu của Mê-ra-ri có A-sa-gia làm thủ lãnh, với hai trăm hai mươi người bà con của ông.
Trong vòng con cháu của Ghẹt-sôm có Giô-ên làm thủ lãnh, với một trăm ba mươi người bà con của ông.
Trong vòng con cháu của Ê-li-xa-phan có Sê-ma-gia làm thủ lãnh, với hai trăm người bà con của ông.
Trong vòng con cháu của Hếp-rôn có Ê-li-ên làm thủ lãnh, với tám mươi người bà con của ông.
10 Trong vòng con cháu của U-xi-ên có Am-mi-na-đáp làm thủ lãnh, với một trăm mười hai người bà con của ông.

11 Ða-vít triệu tập hai vị tư tế Xa-đốc và A-bi-a-tha, cùng các thủ lãnh của người Lê-vi là U-ri-ên, A-sa-gia, Giô-ên, Sê-ma-gia, Ê-li-ên, và Am-mi-na-đáp đến. 12 Ông nói với họ, “Quý vị là thủ lãnh các thị tộc của người Lê-vi, hãy làm cho quý vị ra thánh, tức chính quý vị và bà con của quý vị, để quý vị có thể khiêng Rương của Chúa, Ðức Chúa Trời của I-sơ-ra-ên, vào chỗ tôi đã chuẩn bị cho Rương ấy. 13 Vì trước đây quý vị đã không làm điều đó, nên Chúa, Ðức Chúa Trời của chúng ta, đã nổi giận đối với chúng ta, vì chúng ta đã không tôn kính Ngài đúng theo lễ chế phải làm.” 14 Vậy các tư tế và những người Lê-vi thánh hóa chính họ để có thể khiêng Rương của Chúa, Ðức Chúa Trời của I-sơ-ra-ên. 15 Người Lê-vi dùng các đòn khiêng để khiêng Rương của Ðức Chúa Trời trên vai, y như lời Chúa đã truyền cho Môi-se.

16 Ða-vít cũng truyền cho các thủ lãnh người Lê-vi chỉ định những người trong bà con của họ vào ban thánh nhạc để ca hát và sử dụng các nhạc khí, các hạc cầm, các đàn lia, và các khánh chiêng mà phụ họa với ca đoàn khi họ cất tiếng lớn vui vẻ ca ngợi. 17 Vì thế người Lê-vi chỉ định Hê-man con của Giô-ên; trong vòng bà con của ông ấy họ chỉ định A-sáp con của Bê-rê-ki-a; trong vòng các con cháu của Mê-ra-ri bà con của họ, họ chỉ định Ê-than con của Cút-sa-gia. 18 Trong vòng bà con của họ, họ cũng chỉ định những người vào ban nhạc ở cấp bậc thứ nhì gồm Xa-cha-ri-a, Gia-a-xi-ên, Sê-mi-ra-mốt, Giê-hi-ên, Un-ni, Ê-li-áp, Bê-na-gia, Ma-a-sê-gia, Mát-ti-thi-a, Ê-li-phê-lê-hu, Mít-nê-gia, và hai người giữ cửa là Ô-bết Ê-đôm và Giê-i-ên.

19 Những người hát thánh ca như Hê-man, A-sáp, và Ê-than được giao thêm trách nhiệm sử dụng khánh chiêng bằng đồng. 20 Xa-cha-ri-a, A-xi-ên, Sê-mi-ra-mốt, Giê-hi-ên, Un-ni, Ê-li-áp, Ma-a-sê-gia, và Bê-na-gia sử dụng hạc cầm hòa theo giọng nữ. 21 Mát-ti-thi-a, Ê-li-phê-lê-hu, Mít-nê-gia, Ô-bết Ê-đôm, Giê-i-ên, và A-xa-xi-a sử dụng đàn lia theo điệu Sê-mi-nít. 22 Kê-na-ni-a được lập làm nhạc trưởng của người Lê-vi trong lãnh vực âm nhạc vì ông là nhạc sư. 23 Bê-rê-ki-a và Ên-ca-na là hai người canh gác Rương Thánh. 24 Các vị tư tế gồm Sê-ba-ni-a, Giô-sa-phát, Nê-tha-nên, A-ma-sai, Xa-cha-ri-a, Bê-na-gia, và Ê-li-ê-xe có nhiệm vụ thổi kèn trước Rương của Ðức Chúa Trời. Ô-bết Ê-đôm và Giê-hi-a là những người canh gác Rương Thánh.

Lễ Rước Rương Giao Ước

25 Vậy Ða-vít, các vị trưởng lão của I-sơ-ra-ên, và các vị chỉ huy hàng ngàn quân đi lên rước Rương Giao Ước của Chúa từ nhà của Ô-bết Ê-đôm về với lòng hớn hở vui mừng. 26 Quả thật Ðức Chúa Trời có vùa giúp người Lê-vi khi họ khiêng Rương Giao Ước của Chúa, nên họ dâng bảy con bò đực và bảy con chiên đực làm của lễ thiêu. 27 Ða-vít mặc một áo choàng bằng vải gai mịn, giống như mọi người Lê-vi khiêng Rương Thánh, những người trong ca đoàn, và Kê-na-ni-a người điều khiển âm nhạc. Ngoài ra Ða-vít còn mặc thêm một ê-phót bằng vải gai mịn. 28 Vậy toàn dân I-sơ-ra-ên rước Rương Giao Ước của Chúa đi lên với tiếng hò reo vui vẻ hòa lẫn với tiếng tù và, tiếng kèn, tiếng khánh chiêng, tiếng hạc cầm, và tiếng đàn lia tấu nhạc vang lừng.

29 Thế nhưng khi Rương Giao Ước của Chúa vào trong Thành Ða-vít, Mi-khanh con gái của Sau-lơ nhìn qua cửa sổ và trông thấy Vua Ða-vít đang nhảy nhót và vui mừng, lòng bà nảy sinh ý nghĩ coi thường ông.

Ðặt Rương Giao Ước vào Ðền Tạm

16 Vậy họ rước Rương của Ðức Chúa Trời và đặt Rương Thánh vào lều Ða-vít đã dựng cho Rương Thánh. Sau đó họ dâng các của lễ thiêu và các lễ cầu an trước thánh nhan của Ðức Chúa Trời. Sau khi Ða-vít đã dâng các của lễ thiêu và các của lễ cầu an, ông nhân danh Chúa chúc phước cho dân. Kế đó ông phát cho dân, không phân biệt nam hay nữ, mỗi người một ổ bánh, một phần thịt, và một cái bánh nho khô.

Ông bổ nhiệm một số người Lê-vi vào chức vụ hầu việc trước Rương của Chúa để cầu xin, cảm tạ, và ca ngợi Chúa, Ðức Chúa Trời của I-sơ-ra-ên. A-sáp làm trưởng; Xa-cha-ri-a làm phó; kế đến là Giê-i-ên, Sê-mi-ra-mốt, Giê-hi-ên, Mát-ti-thi-a, Ê-li-áp, Bê-na-gia, Ô-bết Ê-đôm, và Giê-i-ên để họ sử dụng các hạc cầm và các đàn lia; A-sáp là người sử dụng khánh chiêng. Còn hai vị tư tế Bê-na-gia và Gia-ha-xi-ên có nhiệm vụ thổi kèn thường xuyên trước Rương Giao Ước của Ðức Chúa Trời.

Bài Ca Cảm Tạ của Ða-vít

Ngày hôm đó lần đầu tiên Ða-vít đưa cho A-sáp và bà con của ông ấy những bài thánh thi để hát lên cảm tạ Chúa:

Hãy cảm tạ Chúa, hãy cầu khẩn danh Ngài;
Hãy rao truyền cho các dân biết các công việc Ngài.
Hãy ca ngợi Ngài, hãy ca hát chúc tụng Ngài;
Hãy kể ra tất cả những việc lạ lùng của Ngài.
10 Vinh hiển thay cho người được ở trong danh thánh Ngài;
Nguyện lòng những người tìm kiếm Chúa được vui mừng.
11 Hãy tìm kiếm Chúa và tìm kiếm quyền năng Ngài;
Hãy tìm kiếm mặt Ngài luôn luôn.
12 Hãy nhớ mãi những việc lạ lùng Ngài làm,
Tức những việc diệu kỳ và những phán quyết Ngài đã phán.
13 Hỡi dòng dõi của I-sơ-ra-ên,[a] tôi tớ Ngài,
Hỡi con cháu của Gia-cốp, những người Ngài đã chọn.
14 Ngài là Chúa, Ðức Chúa Trời của chúng ta;
Các phán quyết của Ngài là định luật cho cả địa cầu.
15 Ngài ghi nhớ giao ước của Ngài mãi mãi,
Lời Ngài đã truyền có hiệu lực cho ngàn thế hệ về sau,
16 Ấy là giao ước Ngài đã lập với Áp-ra-ham,
Và lời thề Ngài đã thề cùng I-sác.
17 Sau đó Ngài đã xác nhận với Gia-cốp như một đạo luật,
Với I-sơ-ra-ên như một giao ước đời đời,
18 Rằng, “Ta sẽ ban xứ Ca-na-an cho các ngươi để làm sản nghiệp,”
19 Trong khi họ chỉ là một số ít người,
Một nhóm thiểu số và là những kiều dân trong xứ.
20 Họ đã đi lang thang từ nước nầy sang nước khác,
Từ vương quốc nọ đến vương quốc kia.
21 Nhưng Ngài đã không cho phép ai hà hiếp họ;
Vì cớ họ, Ngài đã quở trách các vua,
22 “Ðừng đụng đến những người được xức dầu của Ta;
Chớ làm hại các tiên tri của Ta.”
23 Hỡi cả thế giới, hãy ca ngợi Chúa;
Hãy rao truyền ơn cứu rỗi của Ngài từ ngày nọ sang ngày kia.
24 Hãy công bố vinh hiển của Ngài giữa các quốc gia,
Hãy thuật lại những việc lạ lùng của Ngài cho mọi dân tộc.
25 Chúa thật vĩ đại thay!
Chỉ Ngài là Ðấng đáng được ca tụng.
Ngài là Ðấng đáng kính sợ hơn tất cả các thần.
26 Vì tất cả các thần của các dân chỉ là hình tượng vô tri;
Còn Chúa là Ðấng đã dựng nên các từng trời.
27 Huy hoàng và uy nghi ở trước mặt Ngài,
Quyền năng và đẹp đẽ ở trong nơi thánh của Ngài.
28 Hãy quy về cho Chúa, hỡi các dòng họ của muôn dân,
Hãy quy về cho Chúa vinh hiển và quyền năng.
29 Hãy quy về cho Chúa vinh hiển xứng đáng với danh Ngài;
Hãy đem một của lễ đến trước thánh nhan Ngài.
Hãy tôn thờ Chúa trong nơi thánh tráng lệ của Ngài;
30 Hỡi cả thế giới, khá run sợ trước mặt Ngài.
Ðịa cầu đã được lập vững; nó sẽ không bị chuyển dời.
31 Nguyện các từng trời vui mừng, nguyện trái đất vui vẻ;
Nguyện người ta nói giữa các quốc gia, “Chúa trị vì!”
32 Nguyện đại dương và mọi vật trong nó gầm vang;
Nguyện đồng xanh và mọi vật trong nó mừng rỡ;
33 Bấy giờ mọi cây rừng sẽ hát ca vui vẻ,
Ở trước mặt Chúa, vì Ngài sắp đến để phán xét thế gian.
34 Hãy cảm tạ Chúa, vì Ngài rất tốt,
Vì tình thương của Ngài còn đến đời đời.

35 Xin mọi người hãy nói:

“Lạy Chúa, Ðức Chúa Trời của chúng con,
Xin giải cứu chúng con,
Xin đem chúng con từ giữa các dân trở về,
Ðể chúng con cảm tạ danh thánh của Ngài,
Và tôn vinh ca ngợi Ngài.
36 Chúc tụng Chúa, Ðức Chúa Trời của I-sơ-ra-ên,
Từ đời đời cho đến đời đời.”
Xin mọi người hãy nói, “A-men!” và hãy ca ngợi Chúa!

Sự Thờ Phượng Thường Xuyên

37 Ða-vít để A-sáp và bà con của ông ấy ở lại tại đó trước Rương Giao Ước của Chúa, để họ phục vụ thường xuyên mỗi ngày trước Rương Thánh như đã định. 38 Ông cũng để Ô-bết Ê-đôm và sáu mươi tám người bà con của ông ấy ở lại đó. Ô-bết Ê-đôm con của Giê-đu-thun và Hô-sa đặc trách việc giữ cửa. 39 Ngoài ra ông cũng để Tư Tế Xa-đốc và bà con của ông ấy làm tư tế trước Ðền Tạm của Chúa ở nơi cao tại Ghi-bê-ôn, 40 để họ thường xuyên dâng các của lễ thiêu lên Chúa trên bàn thờ dâng của lễ thiêu, mỗi sáng và mỗi chiều, theo như mọi điều đã ghi trong luật pháp Chúa đã truyền cho I-sơ-ra-ên. 41 Cùng ở với họ có Hê-man, Giê-đu-thun, và những người khác đã được chọn và được nêu đích danh để lo việc tạ ơn Chúa, vì tình thương của Ngài còn đến đời đời. 42 Hê-man và Giê-đu-thun được trao cho các kèn, các khánh chiêng, và mọi thứ nhạc khí để họ lo việc tấu nhạc khi hát thánh ca. Các con của Giê-đu-thun được chỉ định túc trực nơi cổng chính.

43 Sau đó toàn dân I-sơ-ra-ên rời nơi ấy trở về nhà họ. Ða-vít cũng trở về nhà ông và chúc phước cho gia đình ông.

Footnotes:

  1. I Sử Ký 16:13 Thi 105:6 ghi Áp-ra-ham
Bản Dịch 2011 (BD2011)

Copyright © 2011 by Bau Dang

  Back

1 of 1

You'll get this book and many others when you join Bible Gateway Plus. Learn more

Viewing of
Cross references
Footnotes