A A A A A
Bible Book List

I Các Vua 9:1-9 Bản Dịch 2011 (BD2011)

Chúa Hiện Ra với Sa-lô-môn - Lần Thứ Nhì

Sau khi Sa-lô-môn đã xây dựng Ðền Thờ Chúa, hoàng cung, và những dinh thự ông muốn xây cất, Chúa hiện ra với Sa-lô-môn lần thứ nhì, như Ngài đã hiện ra với ông tại Ghi-bê-ôn. Chúa phán với ông, “Ta đã nghe lời cầu nguyện và lời cầu xin của ngươi, những lời ngươi đã trình dâng trước mặt Ta. Ta đã biệt ra thánh Ðền Thờ mà ngươi đã xây và đặt danh Ta tại đó đời đời. Mắt Ta và lòng Ta sẽ ở đó luôn luôn. Riêng phần ngươi, nếu ngươi bước đi trước mặt Ta như Ða-vít cha ngươi đã đi, lấy lòng trọn lành và ngay thẳng làm theo mọi điều Ta đã truyền cho ngươi, và vâng giữ các luật lệ và mạng lịnh Ta, thì Ta sẽ lập ngôi nước ngươi vững vàng trên I-sơ-ra-ên mãi mãi, như Ta đã hứa với Ða-vít cha ngươi rằng, ‘Ngươi sẽ chẳng hề thiếu người kế vị trên ngai của I-sơ-ra-ên.’

Nhưng nếu ngươi hoặc con cháu ngươi quay đi mà lìa bỏ Ta, không giữ điều răn và luật lệ Ta đã truyền cho các ngươi, nhưng phục vụ và thờ phượng các thần khác, thì Ta sẽ dứt bỏ I-sơ-ra-ên ra khỏi xứ Ta đã ban cho chúng; Ta sẽ bỏ Ðền Thờ mà Ta đã biệt riêng ra thánh cho danh Ta, và dân I-sơ-ra-ên sẽ thành một câu tục ngữ và đầu đề bị chế giễu giữa các dân. Ðền Thờ nầy sẽ trở thành một đống đổ nát hoang tàn. Những ai đi qua đó sẽ kinh ngạc, sẽ thắc mắc mà hỏi rằng, ‘Tại sao Chúa đã làm điều ấy cho xứ nầy và cho dân nầy như thế?’ Rồi người ta sẽ đáp rằng, ‘Bởi vì họ đã lìa bỏ Chúa, Ðức Chúa Trời của họ, Ðấng đã đem tổ tiên họ ra khỏi xứ Ai-cập, nhưng bây giờ họ lại đi theo các thần khác, thờ phượng và phục vụ các thần ấy, cho nên Chúa đã khiến tai vạ nầy xảy đến trên họ đó.’”

Bản Dịch 2011 (BD2011)

Copyright © 2011 by Bau Dang

I Các Vua 4:24-34 Bản Dịch 2011 (BD2011)

24 Sa-lô-môn trị vì trên các nước phía tây Sông Ơ-phơ-rát, từ Típ-sa đến Ga-xa. Tất cả các nước phía tây Sông Ơ-phơ-rát đều ở dưới quyền của ông. Ông giao hảo thân thiện với tất cả các nước chung quanh. 25 Trọn đời Sa-lô-môn trị vì, Giu-đa và I-sơ-ra-ên, từ Ðan cho đến Bê-e Sê-ba, sống an cư lạc nghiệp. Ai nấy đều sống an lành dưới bóng mát của cây nho và cây vả của mình.

26 Sa-lô-môn có bốn mươi ngàn[a] chuồng ngựa để nuôi ngựa kéo các xe chiến mã do mười hai ngàn kỵ binh điều khiển.

27 Các quan trưởng mỗi vùng cứ theo tháng đã định cho họ cung cấp mọi nhu cầu thực phẩm cho Vua Sa-lô-môn và tất cả những ai đến bàn ăn của Vua Sa-lô-môn. Họ không để cho thiếu vật chi. 28 Họ còn đem đến nơi đã chỉ định lúa mạch và rơm cho ngựa chiến và ngựa kéo xe chiến mã theo số đã quy định cho họ.

Sự Khôn Ngoan của Sa-lô-môn

29 Ðức Chúa Trời ban cho Sa-lô-môn khôn ngoan, thông sáng, và một kiến thức uyên bác vô kể như cát nơi bờ biển. 30 Sự khôn ngoan của Sa-lô-môn trỗi hơn sự khôn ngoan của mọi người ở phương đông, trỗi hơn sự khôn ngoan của mọi người ở Ai-cập. 31 Sa-lô-môn khôn ngoan hơn mọi người khác, kể cả Ê-than người Ê-xơ-ra-hi. Ông khôn ngoan hơn Hê-man, Canh-côn, và Ðạc-đa, tức các con trai của Ma-hôn. Danh tiếng của ông thật lẫy lừng trong các nước chung quanh. 32 Ông nói ra ba ngàn câu châm ngôn và sáng tác một ngàn lẻ năm bài hát. 33 Ông luận về các thảo mộc, từ cây bá hương ở Li-băng cho đến cây bài hương mọc ở bờ tường. Ông giảng giải về các thú vật và chim chóc, loài bò sát và loài cá. 34 Thiên hạ từ mọi nước kéo đến để nghe những lời khôn ngoan của Sa-lô-môn. Khi các vua trên đất nghe nói về sự khôn ngoan của Sa-lô-môn, họ phái người đến triều kiến để nghe sự khôn ngoan của ông.

Footnotes:

  1. I Các Vua 4:26 2 Sử 9:25 chỉ nói có 4.000 chuồng ngựa
Bản Dịch 2011 (BD2011)

Copyright © 2011 by Bau Dang

I Các Vua 9:10-28 Bản Dịch 2011 (BD2011)

10 Cuối hai năm, thời gian Sa-lô-môn đã xây xong hai công trình kiến trúc, tức Ðền Thờ cho Chúa và hoàng cung, 11 vì Vua Hi-ram của Ty-rơ đã cung cấp cho Sa-lô-môn gỗ bá hương, gỗ tùng, và vàng tùy ý ông muốn, nên Vua Sa-lô-môn đã ban cho Hi-ram hai mươi thành trong địa phận Ga-li-lê. 12 Nhưng khi Hi-ram từ Ty-rơ đến để quan sát các thành Sa-lô-môn đã cho ông thì ông ấy chẳng hài lòng. 13 Hi-ram nói, “Những thành mà anh cho tôi là những thành gì vậy anh?” Rồi ông gọi xứ đó là Ca-bun[a] cho đến ngày nay. 14 Dù vậy Hi-ram cũng gởi cho ông bốn ngàn tám mươi ký vàng.[b]

Các Hoạt Ðộng Khác của Sa-lô-môn

15 Sau đây là bản liệt kê các công trình xây dựng mà Vua Sa-lô-môn đã áp dụng chính sách cưỡng bách lao động để xây cất: Ðền Thờ Chúa, cung điện cho vua, các công sự phòng thủ, tường thành Giê-ru-sa-lem, Ha-xơ, Mê-ghi-đô, Ghê-xe 16 (Số là Pha-ra-ôn vua Ai-cập đã đi lên chiếm lấy Ghê-xe, phóng hỏa thành, tiêu diệt dân Ca-na-an cư ngụ trong thành, rồi ban thành ấy làm của hồi môn cho con gái ông để làm vợ Sa-lô-môn. 17 Vì thế Sa-lô-môn phải xây lại Ghê-xe), Bết Hô-rôn Hạ, 18 Ba-a-lát, và Tác-mô trong đồng hoang thuộc lãnh thổ của ông, 19 tất cả các thành làm kho dự trữ, các thành cho các đạo quân có các xe chiến mã, các thành cho các đạo kỵ binh, và tất cả những gì Sa-lô-môn muốn xây cất ở Giê-ru-sa-lem, ở Li-băng, và ở mọi xứ trong vương quốc của ông. 20 Tất cả những người còn lại của các dân Hít-ti, A-mô-ri, Pê-ri-xi, Hi-vi, và Giê-bu-si sống trong xứ, những người không phải dân I-sơ-ra-ên 21 –chúng là con cháu của những người mà dân I-sơ-ra-ên đã không thể tận diệt và hiện còn sống sót trong xứ– Sa-lô-môn bắt chúng phải đóng thuế nặng dưới hình thức cưỡng bách lao động như đã thấy ngày nay. 22 Nhưng Sa-lô-môn không bắt người I-sơ-ra-ên nào làm nô lệ, nhưng họ là các chiến sĩ, quan lại, tướng tá, đơn vị trưởng, và sĩ quan chỉ huy các đơn vị điều động các xe chiến mã và các đơn vị kỵ binh của ông.

23 Ðây là con số các quan chức Sa-lô-môn đã lập lên để chỉ huy những người thực hiện các công trình xây cất của ông: năm trăm năm mươi người. Họ cai quản những người làm việc.

24 Sau khi con gái của Pha-ra-ôn từ Thành Ða-vít dọn lên ở trong cung điện Sa-lô-môn đã xây cho nàng, ông khởi công xây dựng các công sự phòng thủ.

25 Mỗi năm ba lần Sa-lô-môn lên dâng của lễ thiêu và của lễ cầu an trên bàn thờ ông đã xây cho Chúa. Ông cũng dâng hương lên trước mặt Chúa. Như vậy ông đã hoàn tất công trình xây cất Ðền Thờ.

Các Hoạt Ðộng Thương Mại của Sa-lô-môn

26 Vua Sa-lô-môn cũng cho đóng một đoàn tàu tại Ê-xi-ôn Ghê-be, gần Ê-lát, nơi bờ Hồng Hải, thuộc xứ Ê-đôm. 27 Hi-ram sai các tôi tớ của ông, những thủy thủ thông thạo hàng hải, đi với đoàn tàu, tức đi với các tôi tớ của Sa-lô-môn. 28 Họ đến Ô-phia và đem về hơn mười bốn tấn[c] vàng, rồi đem nộp tất cả cho Vua Sa-lô-môn.

Footnotes:

  1. I Các Vua 9:13 “ca-bun” nghĩa là “đồ bỏ,” “đồ dổm,” hay “thứ chẳng ra gì”
  2. I Các Vua 9:14 nt: 120 ta-lâng vàng
  3. I Các Vua 9:28 nt: 420 ta-lâng (2 Sử 8:18 ghi 450 ta-lâng)
Bản Dịch 2011 (BD2011)

Copyright © 2011 by Bau Dang

II Sử Ký 8 Bản Dịch 2011 (BD2011)

Các Hoạt Ðộng Khác của Sa-lô-môn

Ðến cuối hai mươi năm, sau khi Sa-lô-môn đã xây xong Ðền Thờ Chúa và cung điện cho ông, Sa-lô-môn tái thiết các thành Vua Hu-ram đã tặng ông, và đem dân I-sơ-ra-ên vào định cư trong các thành ấy. Sa-lô-môn tiến đánh Ha-mát Xô-ba và chiếm được miền ấy. Ông cũng xây lại Thành Tác-mô trong đồng hoang và xây lại các thành trong vùng Ha-mát để làm các kho dự trữ lương thực. Ông xây lại Thành Bết Hô-rôn Thượng và Thành Bết Hô-rôn Hạ và biến chúng thành những thành trì kiên cố với tường cao, cổng khóa, và rào cản. Sa-lô-môn cũng xây lại Thành Ba-a-lát và tất cả các thành làm kho dự trữ lương thực của ông, các thành cho các đạo quân sử dụng các xe chiến mã, các thành cho các đạo kỵ binh, và tất cả những gì Sa-lô-môn muốn xây cất ở Giê-ru-sa-lem, ở Li-băng, và ở mọi miền trong vương quốc của ông.

Tất cả những người còn lại của các dân Hít-ti, A-mô-ri, Pê-ri-xi, Hi-vi, và Giê-bu-si sống trong xứ, tức những người không phải dân I-sơ-ra-ên –họ là con cháu của những người mà dân I-sơ-ra-ên đã không thể tận diệt và hiện còn sống trong xứ– Sa-lô-môn bắt những người ấy phải đóng thuế nặng dưới hình thức cưỡng bách lao động như đã thấy ngày nay. Nhưng Sa-lô-môn không bắt người I-sơ-ra-ên nào làm nô lệ cho các công trình xây cất của ông, nhưng họ là chiến sĩ, tướng tá, và sĩ quan chỉ huy các đơn vị có xe chiến mã và các đơn vị kỵ binh của ông.

10 Ðây là con số các quan chức cao cấp của Vua Sa-lô-môn: hai trăm năm mươi người. Họ là những người trực tiếp cai quản dân.

11 Sa-lô-môn đem con gái của Pha-ra-ôn ra khỏi Thành Ða-vít và đưa vào ở trong cung điện ông đã xây riêng cho nàng, vì ông nói, “Vợ tôi sẽ không ở trong cung điện của Ða-vít vua I-sơ-ra-ên, vì nơi nào Rương của Chúa đã ngự vào, nơi đó đã trở thành thánh địa.”

12 Sau đó Sa-lô-môn dâng các của lễ thiêu lên Chúa trên bàn thờ Chúa mà ông đã xây trước tiền đình, 13 theo như luật lệ Môi-se đã quy định phải dâng hiến hằng ngày, những ngày Sa-bát, những ngày trăng mới, và ba ngày đại lễ hằng năm: Lễ Bánh Không Men, Lễ Các Tuần, và Lễ Lều Tạm.[a] 14 Ðể duy trì mệnh lệnh về sự thờ phượng mà Ða-vít cha ông đã lập, ông bổ nhiệm các tư tế vào các ban ngành để thực hiện các nhiệm vụ của họ. Ông bổ nhiệm những người Lê-vi vào các chức vụ để lo việc ca hát và vào các ban ngành để phụ giúp các tư tế thi hành chức vụ hằng ngày. Ông cũng bổ nhiệm những người giữ cửa vào các toán, để thay phiên nhau canh gác tại các cửa, theo như Ða-vít người của Ðức Chúa Trời đã truyền. 15 Không ai vi phạm bất cứ mạng lịnh nào của tiên vương liên quan đến chức vụ của các tư tế và chức vụ của những người Lê-vi, kể cả việc quản lý các kho báu của Ðền Thờ. 16 Vậy tất cả những việc Sa-lô-môn dự tính làm, từ lúc khởi công xây móng Ðền Thờ Chúa cho đến khi Ðền Thờ hoàn tất, đều được thực hiện. Thế là công trình xây cất Ðền Thờ Chúa đã hoàn thành cách mỹ mãn.

17 Sau đó Sa-lô-môn đến kinh lý Ê-xi-ôn Ghê-be và Ê-lát, trên bờ biển thuộc lãnh thổ của Ê-đôm. 18 Khi ấy Hu-ram sai các tôi tớ của ông, những người thông thạo việc đi biển, đem tàu thủy tới. Họ dẫn các tôi tớ của Sa-lô-môn đến xứ Ô-phia và lấy hơn mười lăm tấn[b] vàng đem về cho Vua Sa-lô-môn.

Footnotes:

  1. II Sử Ký 8:13 ctd: Lễ Vượt Qua, Lễ Mùa Gặt (Lễ Ngũ Tuần), và Lễ Lều Tạm
  2. II Sử Ký 8:18 nt: 450 ta-lâng (1 Vua 9:28 ghi 420 ta-lâng)
Bản Dịch 2011 (BD2011)

Copyright © 2011 by Bau Dang

I Các Vua 10:1-13 Bản Dịch 2011 (BD2011)

Nữ Hoàng Sê-ba Ðến Thăm Sa-lô-môn

10 Khi nữ hoàng của Sê-ba nghe đồn về danh tiếng của Sa-lô-môn, tức danh tiếng nhờ danh Chúa ông có được, bà đến thăm và đưa ra những câu hỏi hóc búa để thử tài ông. Bà đến Giê-ru-sa-lem với một đoàn tùy tùng rất đông. Bà dẫn theo một đoàn lạc đà chở các thứ hương liệu, rất nhiều vàng, và các loại ngọc thạch. Khi gặp Sa-lô-môn, bà nói cho ông nghe tất cả những gì bà đã suy nghĩ trong lòng. Sa-lô-môn giải đáp tất cả các câu hỏi của bà. Chẳng có điều gì là quá bí ẩn mà ông không giải nghĩa được cho bà. Khi nữ hoàng của Sê-ba đã chứng kiến tất cả sự khôn ngoan của Sa-lô-môn, và cung điện ông đã xây, thức ăn trên bàn ông, cách tổ chức làm việc của quần thần ông, cung cách phục vụ và triều phục họ mặc, các quan dâng thức uống cho ông và y phục của họ, và các của lễ thiêu ông dâng trong Ðền Thờ Chúa, bà kinh hồn. Bà nói với ông, “Những gì tôi đã nghe nói trong nước tôi về các thành quả và sự khôn ngoan của ngài đều là thật, nhưng tôi không tin những điều ấy, cho đến khi tôi đến đây và trông thấy tận mắt. Những điều tôi nghe chỉ là phân nửa. Sự khôn ngoan và giàu sang của ngài thật vượt quá những gì tôi đã nghe nói. Phước hạnh thay cho những người của ngài![a] Phước hạnh thay cho bầy tôi của ngài, những người thường xuyên chầu chực trước mặt ngài và được nghe sự khôn ngoan của ngài! Chúc tụng Chúa, Ðức Chúa Trời của ngài, Ðấng đã lấy làm hài lòng nơi ngài và đặt ngài trên ngai của I-sơ-ra-ên! Vì Chúa yêu thương I-sơ-ra-ên mãi mãi nên đã lập ngài làm vua để thi hành công lý và lẽ công chính.”

10 Sau đó bà tặng ông hơn bốn tấn[b] vàng, rất nhiều hương liệu, và ngọc thạch. Chưa bao giờ có ai đem hương liệu đến nhiều như số hương liệu của nữ hoàng của Sê-ba tặng Vua Sa-lô-môn.

11 Ngoài ra đoàn tàu của Hi-ram đem vàng từ Ô-phia về cũng chở theo rất nhiều gỗ đàn hương và ngọc thạch từ Ô-phia về. 12 Vua lấy các gỗ đàn hương đó làm các cột trang hoàng trong Ðền Thờ Chúa và trong hoàng cung, cùng làm các đàn lia và các hạc cầm cho các nhạc sĩ. Thứ gỗ đàn hương ấy không thấy chở đến nữa, và cũng không còn thấy nữa cho đến ngày nay.

13 Vua Sa-lô-môn tặng nữ hoàng của Sê-ba bất cứ món gì bà thích, ngoài những gì ông đã tặng cho bà theo sự giàu sang phú quý của ông. Sau đó bà và đoàn tùy tùng của bà lên đường trở về nước của bà.

Footnotes:

  1. I Các Vua 10:8 Có bản cổ khác chép “các bà vợ của ngài”
  2. I Các Vua 10:10 nt: 120 ta-lâng
Bản Dịch 2011 (BD2011)

Copyright © 2011 by Bau Dang

I Các Vua 10:14-29 Bản Dịch 2011 (BD2011)

Sự Giàu Sang của Sa-lô-môn

14 Số vàng Vua Sa-lô-môn thâu nhận hàng năm cân nặng trên hai tấn rưỡi,[a] 15 ngoài số lợi tức thu được từ các thương gia và những người buôn bán, và từ tất cả các vua Ả-rập và các quan trưởng ở các tỉnh đem nộp. 16 Vua Sa-lô-môn làm hai trăm chiếc thuẫn lớn bọc vàng dát mỏng. Mỗi chiếc dùng gần bảy ký[b] vàng. 17 Vua cũng cho làm ba trăm chiếc thuẫn nhỏ hơn bọc vàng dát mỏng. Mỗi chiếc dùng gần hai ký[c] vàng. Rồi vua cho đặt những thuẫn đó trong cung Rừng Li-băng. 18 Vua cũng cho làm một chiếc ngai lớn bằng ngà, bọc vàng ròng. 19 Chiếc ngai có sáu bậc cấp. Phần cao nhất của ngai là chỗ dựa lưng có hình tròn. Hai bên chỗ ngồi là hai chỗ gác tay; bên cạnh hai chỗ gác tay có tượng hai con sư tử. 20 Ngoài ra còn có tượng mười hai con sư tử khác, mỗi con đứng ở mỗi đầu của sáu bậc cấp. Chưa hề có vương quốc nào làm ngai giống như vậy. 21 Tất cả các ly chén Vua Sa-lô-môn dùng để uống đều bằng vàng, và tất cả các vật dụng trong Cung Ðiện Rừng Li-băng đều bằng vàng ròng. Không có vật chi làm bằng bạc, vì trong thời của Sa-lô-môn bạc không có giá trị gì. 22 Số là vua có một đoàn tàu ở Tạt-si đi biển chung với đoàn tàu của Hi-ram. Cứ ba năm đoàn tàu ở Tạt-si ấy trở về mang theo vàng, bạc, ngà voi, khỉ, và công.

23 Vì thế Vua Sa-lô-môn trỗi hơn các vua trên đất về giàu có và khôn ngoan. 24 Thiên hạ đều mong được diện kiến Vua Sa-lô-môn, để được nghe sự khôn ngoan mà Ðức Chúa Trời đã ban cho tâm trí ông. 25 Ai đến cũng đem theo lễ vật, nào là các vật bằng bạc, bằng vàng, quần áo, vũ khí, hương liệu, ngựa, và lừa, cứ thế hết năm nầy đến năm khác.

26 Sa-lô-môn cũng thâu thập các xe chiến mã và ngựa. Ông có một ngàn bốn trăm xe chiến mã và mười hai ngàn ngựa. Ông cho chúng ở trong các thành của các đơn vị sử dụng các xe chiến mã, trú đóng gần bên vua tại Giê-ru-sa-lem. 27 Vua làm cho bạc trở nên tầm thường như sỏi đá và gỗ bá hương nhiều như gỗ cây sung mọc ở các chân đồi. 28 Sa-lô-môn cho mua ngựa từ Ai-cập và Cư-ê về. Những người phụ trách mậu dịch của vua đến tận Cư-ê trả giá mua về. 29 Một xe chiến mã mua từ Ai-cập giá gần bảy ký[d] bạc, còn một con ngựa giá trên một ký bảy.[e] Sau đó các thương gia của hoàng gia đem bán lại cho các vua dân Hít-ti và các vua dân A-ram.

Footnotes:

  1. I Các Vua 10:14 nt: 666 ta-lâng
  2. I Các Vua 10:16 nt: 600 sê-ken
  3. I Các Vua 10:17 nt: 3 mi-na (1 Sử 9:16 ghi 300 sê-ken)
  4. I Các Vua 10:29 nt: 600 sê-ken (khoảng 6 ký 900 gờ-ram)
  5. I Các Vua 10:29 nt: 150 sê-ken (khoảng 1 ký 725 gờ-ram)
Bản Dịch 2011 (BD2011)

Copyright © 2011 by Bau Dang

Thánh Thi 72 Bản Dịch 2011 (BD2011)

Sự Trị Vì của Vua Công Chính

Thơ của Sa-lô-môn

72 Ðức Chúa Trời ôi, xin ban cho vua công lý của Ngài,
Và ban cho con của vua lẽ công chính của Ngài.
Ðể người xét đoán dân Ngài theo sự công chính,
Và xét xử kẻ khốn khổ theo lẽ công bình.
Nguyện các núi đem hòa bình đến cho toàn dân,
Và các đồi đem công chính đến cho họ.
Nguyện người giải oan cho kẻ bị khốn khổ trong dân,
Nguyện người cứu con cái của những người nghèo khó,
Và chà nát những kẻ cậy quyền cậy thế bức hại dân lành.

Hễ mặt trời còn bao lâu, nguyện họ kính sợ người bấy lâu;
Hễ mặt trăng còn bao lâu, nguyện hậu duệ người còn bấy lâu.
Nguyện người ngự đến như mưa rơi trên cỏ,
Như mưa rào rơi xuống tưới mặt đất khắp nơi.
Trong đời người trị vì, nguyện người ngay lành được hưng thạnh,
Và hòa bình được bền lâu cho đến khi mặt trăng không còn nữa.

Nguyện người trị vì từ đại dương nầy đến đại dương kia,
Từ Sông Lớn[a] đến tận cùng trái đất.
Nguyện các dân du mục trong sa mạc cúi lạy trước mặt người;
Nguyện những kẻ thù của người sẽ phải liếm bụi đất.
10 Nguyện các vua ở Tạt-si và các hải đảo sẽ triều cống người,
Còn các vua ở Sê-ba và Se-ba sẽ đem lễ vật đến cho người.
11 Nguyện các vua sấp mình xuống trước mặt người,
Và các nước hầu hạ người.
12 Bởi vì người giải cứu kẻ nghèo khó khi họ kêu cứu,
Người cứu giúp kẻ khốn cùng và kẻ không được ai giúp đỡ.
13 Người cảm thương những kẻ nghèo nàn và cùng khốn,
Người cứu mạng những kẻ nghèo khó để họ được sống.
14 Người giải cứu đời sống họ khỏi cảnh áp bức và bạo tàn;
Trước mặt người máu của họ thật quý báu biết bao.

15 Nguyện người sẽ được cao niên trường thọ;
Nguyện người ta đem vàng ở Sê-ba đến dâng cho người;
Nguyện họ sẽ cầu nguyện cho người luôn luôn;
Nguyện họ sẽ cầu phước cho người suốt ngày.
16 Nguyện lúa gạo sẽ dư dật khắp nơi trong nước, thậm chí những người sống trên các đỉnh núi cũng có lúa gạo đầy tràn;
Nguyện hoa quả sẽ nhiều như cây cối trên rừng Li-băng;
Nguyện những người sống ở thành thị sẽ phát đạt như cỏ lan trong đồng nội.
17 Nguyện người sẽ được lưu danh mãi mãi;
Hễ mặt trời tồn tại bao lâu, nguyện danh người còn lại bấy lâu;
Nguyện người ta lấy danh người chúc phước cho nhau;
Nguyện mọi dân sẽ ca tụng rằng, “Người ấy thật có phước.”

18 Chúc tụng Chúa Ðức Chúa Trời,[b] Thần[c] của I-sơ-ra-ên,
Ðấng duy nhất làm những việc lạ lùng.
19 Danh vinh hiển của Ngài thật đáng được ca tụng đời đời;
Nguyện khắp đất đầy dẫy vinh quang Ngài.
A-men và A-men.

20 Những lời cầu nguyện của Ða-vít con trai Giê-se kết thúc ở đây.

Footnotes:

  1. Thánh Thi 72:8 Sông Ơ-phơ-rát
  2. Thánh Thi 72:18 nt: Yahweh Elohim
  3. Thánh Thi 72:18 ctd: Ðức Chúa Trời, Thượng Ðế, Thiên Chúa
Bản Dịch 2011 (BD2011)

Copyright © 2011 by Bau Dang

  Back

1 of 1

You'll get this book and many others when you join Bible Gateway Plus. Learn more

Viewing of
Cross references
Footnotes