A A A A A
Bible Book List

Rô-ma 4:1-5 Bản Dịch 2011 (BD2011)

Gương của Áp-ra-ham

Vậy chúng ta sẽ nói gì về tổ phụ Áp-ra-ham của chúng ta theo phần xác đã được? Vì nếu nhờ vào việc làm mà Áp-ra-ham đã được xưng công chính thì ông có lý do để tự hào; nhưng ông không thể tự hào trước mặt Ðức Chúa Trời được, vì Kinh Thánh đã nói gì?

“Áp-ra-ham tin Ðức Chúa Trời, và vì thế ông được kể là công chính.”[a]

Thế thì, đối với người làm việc, tiền công không phải là ơn huệ, nhưng là món nợ chủ phải trả. Nhưng đối với người không cậy vào việc làm, mà chỉ tin vào Ðấng làm cho người có tội được xưng công chính, thì đức tin của người ấy được kể là yếu tố giúp người ấy được xưng công chính.

Footnotes:

  1. Rô-ma 4:3 Sáng 15:6
Bản Dịch 2011 (BD2011)

Copyright © 2011 by Bau Dang

Sáng Thế 12:1-9 Bản Dịch 2011 (BD2011)

Áp-ram Ðược Chúa Chọn

12 Bấy giờ Chúa phán với Áp-ram, “Hãy rời khỏi xứ sở ngươi, bà con ngươi, và nhà cha ngươi, để đi đến xứ Ta sẽ chỉ cho. Ta sẽ làm ngươi trở nên một dân lớn. Ta sẽ ban phước cho ngươi và làm nổi danh ngươi. Ngươi sẽ thành một nguồn phước. Ta sẽ ban phước cho người nào chúc phước ngươi, và sẽ nguyền rủa kẻ nào nguyền rủa ngươi. Mọi dân trên thế gian sẽ nhờ ngươi mà được phước.”

Áp-ram ra đi như Chúa đã phán với ông và Lót đi với ông. Áp-ram được bảy mươi lăm tuổi khi ông rời khỏi Cha-ran. Áp-ram dẫn Sa-rai vợ ông và Lót cháu ông; họ đem theo mọi tài sản họ đã tạo được và mọi gia nhân họ có được tại Cha-ran và lên đường đi đến xứ Ca-na-an, và họ đã đến được xứ đó.

Áp-ram đi ngang qua xứ ấy và đến một nơi tại Si-chem, nơi có cây sồi của Mô-rê. Lúc ấy dân Ca-na-an đang sống trong xứ. Bấy giờ Chúa hiện ra với Áp-ram và phán, “Ta sẽ ban cho dòng dõi ngươi xứ nầy.” Ông bèn xây tại đó một bàn thờ để thờ phượng Chúa, Ðấng đã hiện ra với ông.

Từ đó ông di chuyển về miền đồi núi ở phía đông của Bê-tên,[a] rồi hạ trại tại đó; đó là nơi phía tây có Bê-tên và phía đông có Ai. Tại đó ông xây một bàn thờ để thờ phượng Chúa và kêu cầu danh Chúa. Sau đó Áp-ram lại tiếp tục lên đường, đi từng chặng một, dần dần tiến về Miền Nam.[b]

Footnotes:

  1. Sáng Thế 12:8 “Bết” (Beth) là nhà, “Ên” (El) là Ðức Chúa Trời; Bê-tên là Nhà của Ðức Chúa Trời (28:19)
  2. Sáng Thế 12:9 nt: Nê-ghép, một địa danh, nam của Palestine, bắc của Ai-cập
Bản Dịch 2011 (BD2011)

Copyright © 2011 by Bau Dang

Sáng Thế 13 Bản Dịch 2011 (BD2011)

Áp-ram và Lót Chia Tay

13 Áp-ram từ Ai-cập đi lên; ông dẫn vợ ông và đem theo các tài vật ông có trở lên Miền Nam;[a] cũng có Lót đi với ông.

Bấy giờ Áp-ram đã trở thành một người rất giàu. Ông có nhiều súc vật, bạc, và vàng. Ông cứ đi từng chặng một, từ Miền Nam tiến dần về Bê-tên, trở về nơi ông đã hạ trại ban đầu, tức khoảng giữa Bê-tên và Ai, nơi khi trước ông đã xây một bàn thờ, nơi Áp-ram đã kêu cầu danh Chúa.

Bấy giờ Lót, người cháu đi theo Áp-ram, cũng có nhiều bầy chiên, bầy bò, và lều trại. Xứ đó không đủ chỗ cho họ ở chung, bởi tài sản của họ quá nhiều đến nỗi không thể ở chung với nhau được. Bấy giờ giữa những người chăn bầy cho Áp-ram và những người chăn bầy cho Lót lại có cuộc tranh giành cãi cọ với nhau. Lúc đó dân Ca-na-an và dân Pê-ri-xi vẫn còn trú ngụ trong xứ ấy.

Áp-ram nói với Lót, “Ðừng để cho có chuyện tranh chấp giữa bác cháu mình, giữa những người chăn bầy của cháu và những người chăn bầy của bác, vì chúng ta là bà con ruột thịt với nhau. Chẳng phải cả xứ đều ở trước mặt cháu đấy sao? Thôi thì chúng ta hãy chia tay nhau. Nếu cháu chọn bên trái, bác sẽ dọn qua bên phải; nếu cháu chọn bên phải, bác sẽ dọn qua bên trái.”

10 Lót ngước mắt lên và thấy cả vùng đồng bằng Sông Giô-đanh, chỗ nào cũng có nước. Ðó là quang cảnh trước khi Chúa tiêu diệt Sô-đôm và Gô-mô-ra. Toàn vùng đó, chạy dài cho đến Xô-a, đều xanh tươi tốt đẹp, như vườn của Chúa, giống như xứ Ai-cập. 11 Lót bèn chọn cho ông cả vùng đồng bằng Sông Giô-đanh, và Lót dọn về phía đông. Thế là họ chia tay nhau.

12 Áp-ram sống trong xứ Ca-na-an, còn Lót đến ở giữa các thành trong vùng đồng bằng, và di chuyển trại ông đến gần Sô-đôm. 13 Vả dân Sô-đôm là những kẻ gian ác và phạm tội nặng đối với Chúa.

14 Sau khi Lót chia tay với Áp-ram, Chúa phán với ông, “Hãy ngước mắt lên, từ chỗ ngươi đang ở hãy nhìn về hướng bắc, hướng nam, hướng đông, và hướng tây, 15 vì Ta sẽ ban cho ngươi và dòng dõi ngươi tất cả đất ngươi thấy vĩnh viễn. 16 Ta sẽ làm cho dòng dõi ngươi đông như bụi trên đất, đến nỗi nếu ai có thể đếm được bụi trên đất sẽ đếm được dòng dõi ngươi. 17 Hãy đứng dậy, hãy đi quan sát suốt chiều dọc và chiều ngang của xứ nầy, vì Ta sẽ ban nó cho ngươi.” 18 Vậy Áp-ram di chuyển trại của ông và đến hạ trại tại đám sồi của Mam-rê, trong vùng Hếp-rôn. Tại đó ông xây một bàn thờ để thờ phượng Chúa.

Footnotes:

  1. Sáng Thế 13:1 nt: Nê-ghép (xem chú thích 12:9)
Bản Dịch 2011 (BD2011)

Copyright © 2011 by Bau Dang

Sáng Thế 15:1-6 Bản Dịch 2011 (BD2011)

Giao Ước của Ðức Chúa Trời với Áp-ram

15 Sau các việc đó lời của Chúa đã đến với Áp-ram trong một khải tượng, “Hỡi Áp-ram, đừng sợ. Ta là thuẫn che chở ngươi. Phần thưởng của ngươi sẽ rất lớn.”

Nhưng Áp-ram thưa lại, “Lạy Chúa Ðức Chúa Trời,[a] Ngài sẽ ban cho con điều gì, vì con vẫn còn sống cuộc đời của kẻ không con nối dõi, và người sẽ thừa kế gia tài của con sẽ là Ê-li-ê-xe người Ða-mách?” Áp-ram thưa tiếp, “Nầy, cho đến bây giờ Ngài vẫn chưa cho con có con nối dõi, nên một người nô lệ sinh ra trong nhà con sẽ thừa hưởng gia tài của con.”

Nhưng lời Chúa đến với ông, “Kẻ ấy không phải là người thừa kế của ngươi đâu, nhưng đứa con do chính ngươi sinh ra mới là người thừa kế của ngươi.” Ngài dẫn ông ra bên ngoài và phán, “Ngươi hãy nhìn lên trời và đếm các vì sao, liệu ngươi có thể đếm hết chăng.” Ðoạn Ngài phán với ông, “Dòng dõi ngươi rồi cũng sẽ đông như vậy.” Ông tin Chúa, bởi thế ông được Ngài xem là công chính.

Footnotes:

  1. Sáng Thế 15:2 nt: Adonai Yahweh
Bản Dịch 2011 (BD2011)

Copyright © 2011 by Bau Dang

Sáng Thế 15:18 Bản Dịch 2011 (BD2011)

18 Ngày hôm đó Chúa đã lập một giao ước với Áp-ram rằng, “Ta ban cho dòng dõi ngươi đất nầy, từ Sông Ai-cập đến Sông Cả, tức Sông Ơ-phơ-rát,

Bản Dịch 2011 (BD2011)

Copyright © 2011 by Bau Dang

Sáng Thế 17:1-10 Bản Dịch 2011 (BD2011)

Cắt Bì - Dấu của Giao Ước

17 Khi Áp-ram được chín mươi chín tuổi, Chúa hiện ra với Áp-ram và phán, “Ta là Ðức Chúa Trời Toàn Năng.[a] Hãy bước đi trước mặt Ta và sống hoàn toàn thánh thiện. Ta sẽ thực hiện giao ước Ta, tức giao ước giữa Ta với ngươi, và sẽ làm cho ngươi gia tăng đông đúc.”

Áp-ram liền sấp mặt xuống đất. Ðức Chúa Trời phán tiếp với ông, “Nầy, về phần Ta, đây là giao ước của Ta với ngươi: Ngươi sẽ trở thành tổ phụ của nhiều dân. Từ nay tên ngươi không còn là Áp-ram[b] nữa, nhưng tên ngươi sẽ là Áp-ra-ham,[c] vì Ta đã lập ngươi làm tổ phụ của nhiều dân. Ta sẽ làm cho dòng dõi ngươi gia tăng đông đúc, rồi từ ngươi sẽ sinh ra nhiều dân, và các vua sẽ từ dòng dõi ngươi sinh ra. Ta sẽ thực hiện giao ước Ta, tức giao ước giữa Ta với ngươi và với dòng dõi ngươi sau này, từ thế hệ nầy qua thế hệ khác; đó là một giao ước đời đời, để Ta làm Ðức Chúa Trời[d] của ngươi và của dòng dõi ngươi sau này. Ta cũng sẽ ban cho ngươi và dòng dõi ngươi sau này xứ hiện nay ngươi đang sống như một kiều dân, tức toàn cõi Ca-na-an, để làm sản nghiệp đời đời; và Ta sẽ làm Ðức Chúa Trời[e] của chúng.”

Ðoạn Ðức Chúa Trời phán với Áp-ra-ham, “Về phần ngươi, tức ngươi và dòng dõi ngươi sau này, từ thế hệ nầy qua thế hệ khác, phải giữ giao ước Ta. 10 Ðây là giao ước Ta mà các ngươi phải giữ, tức giao ước giữa Ta với ngươi và với dòng dõi ngươi sau này: Mỗi người nam của các ngươi phải được cắt bì.

Footnotes:

  1. Sáng Thế 17:1 nt: El Shaddai
  2. Sáng Thế 17:5 Áp-ram nghĩa là tổ phụ cao quý
  3. Sáng Thế 17:5 Áp-ra-ham nghĩa là tổ phụ của nhiều dân tộc
  4. Sáng Thế 17:7 ctd: để Ta làm Thần của ngươi...
  5. Sáng Thế 17:8 ctd: Thần
Bản Dịch 2011 (BD2011)

Copyright © 2011 by Bau Dang

Sáng Thế 17:23 Bản Dịch 2011 (BD2011)

23 Ngay hôm ấy Áp-ra-ham đem Ích-ma-ên con trai ông, tất cả những người nam sinh ra trong nhà ông, và tất cả những người nam ông bỏ tiền mua về, tức tất cả những người nam trong nhà Áp-ra-ham, làm phép cắt bì, để cắt bỏ phần da bao quy đầu của họ, như Ðức Chúa Trời đã truyền cho ông.

Bản Dịch 2011 (BD2011)

Copyright © 2011 by Bau Dang

Rô-ma 6:23 Bản Dịch 2011 (BD2011)

23 Vì tiền công của tội lỗi là sự chết, nhưng tặng phẩm của Ðức Chúa Trời là sự sống đời đời trong Ðức Chúa Jesus Christ, Chúa chúng ta.

Bản Dịch 2011 (BD2011)

Copyright © 2011 by Bau Dang

Rô-ma 4:6-8 Bản Dịch 2011 (BD2011)

Ðó cũng là điều Ða-vít đã nói về phước hạnh của người được Ðức Chúa Trời kể là công chính mà không nhờ cậy vào việc làm,

“Phước cho người được tha những vi phạm mình, được khỏa lấp những tội lỗi mình.
Phước cho người được Chúa không kể tội của mình.”[a]

Footnotes:

  1. Rô-ma 4:8 Thi 32:1-2
Bản Dịch 2011 (BD2011)

Copyright © 2011 by Bau Dang

Thánh Thi 32 Bản Dịch 2011 (BD2011)

Phước của Người Ðược Tha Thứ và Tin Cậy Chúa

Giáo huấn ca của Ða-vít

32 Phước cho người được tha sự vi phạm mình,
Ðược khỏa lấp tội lỗi mình!
Phước cho người được Chúa không kể tội của mình,
Và trong lòng không có điều chi gian dối!

Khi con cố nín lặng, các xương cốt con vẫn bị tiêu hao,
Bởi con phải rên rỉ suốt ngày;
Vì cả ngày lẫn đêm tay Ngài đè nặng trên con;
Sức sống con cạn dần như gặp hơi nóng mùa hè. (Sê-la)

Con nhìn nhận những tội lỗi con đã phạm đối với Ngài,
Con chẳng dám giấu giếm các tội lỗi của con;
Con nói, “Con xưng nhận các vi phạm của con đối với Chúa,”
Và Ngài đã tha thứ các lỗi lầm vi phạm của con. (Sê-la)

Vì vậy mong những người có lòng tin kính hãy cầu nguyện với Ngài khi họ còn có thể tìm được Ngài,
Hầu khi những dòng nước lụt đoán phạt lớn lao ập đến, chúng sẽ không đến gần họ.
Ngài là nơi ẩn náu của con;
Ngài gìn giữ con khỏi bị hoạn nạn;
Ngài bao quanh con bằng những bài ca giải cứu. (Sê-la)

Ta sẽ dạy bảo ngươi và chỉ cho ngươi con đường phải đi;
Mắt Ta hằng ở với ngươi để Ta hướng dẫn ngươi.
Ðừng như con ngựa hoặc con la là loài không thông sáng,
Ngươi phải dùng hàm khớp và dây cương để điều khiển chúng,
Bằng không, chúng chẳng vâng lời[a] ngươi.

10 Kẻ ác sẽ gặp nhiều đau khổ;
Nhưng ai tin cậy Chúa, lòng thương xót của Ngài sẽ bao bọc người ấy.
11 Hỡi người ngay lành, hãy vui vẻ và hân hoan trong Chúa;
Hỡi người có lòng ngay thẳng, hãy cất tiếng reo mừng.

Footnotes:

  1. Thánh Thi 32:9 nt: đến gần
Bản Dịch 2011 (BD2011)

Copyright © 2011 by Bau Dang

II Sa-mu-ên 11-12 Bản Dịch 2011 (BD2011)

Ða-vít Phạm Tội Tà Dâm và Sát Nhân

11 Sau việc đó mùa xuân năm mới đến, khi các vua thường xuất quân ra trận, Ða-vít sai Giô-áp và các tướng sĩ của ông dẫn toàn quân I-sơ-ra-ên đi chinh chiến. Họ đánh bại dân Am-môn và bao vây thành Ráp-ba. Trong khi đó Ða-vít vẫn ở tại Giê-ru-sa-lem. Một buổi chiều kia Ða-vít trỗi dậy khỏi giường và đi bách bộ trên sân thượng của cung điện. Từ trên sân thượng ông nhìn thấy một phụ nữ đang tắm. Ðó là một phụ nữ rất đẹp. Ða-vít sai người tìm hiểu về bà và người ấy bảo, “Bà đó chẳng phải là Bát-sê-ba con gái của Ê-li-am và cũng là vợ của U-ri-a người Hít-ti sao?” Ða-vít sai các thuộc hạ đến bắt bà. Bà đến với vua và vua nằm với bà –Vả, lúc ấy bà vừa mới thanh tẩy sau thời kỳ kinh nguyệt xong– Sau đó bà trở về nhà bà. Bà ấy thụ thai. Bà nhắn tin cho Ða-vít hay rằng, “Tôi đã có thai.”

Bấy giờ Ða-vít sai ngươi đem tin cho Giô-áp rằng, “Hãy bảo U-ri-a người Hít-ti về gặp ta.” Vậy Giô-áp sai U-ri-a về với Ða-vít. Khi U-ri-a về gặp Ða-vít, Ða-vít hỏi ông tin tức về Giô-áp, về tình trạng các binh sĩ, và về tình hình chiến sự. Sau đó Ða-vít nói với ông, “Ngươi hãy đi xuống nhà ngươi, tắm rửa và nghỉ ngơi[a] đi.” U-ri-a rời khỏi cung vua, và vua cho người bưng một mâm thức ăn làm quà đến biếu ông. Nhưng U-ri-a ngủ tại cửa hoàng cung với tất cả các tôi tớ của chúa thượng ông mà không đi xuống nhà ông. 10 Người ta báo cho Ða-vít hay rằng, “U-ri-a không đi xuống nhà ông ấy.” Ða-vít nói với U-ri-a, “Ngươi há chẳng phải đi đường xa mới về sao? Tại sao ngươi không đi xuống nhà ngươi mà nghỉ?”

11 U-ri-a trả lời với Ða-vít, “Rương thánh, quân đội I-sơ-ra-ên, và quân đội Giu-đa đang ở trong các lều ngoài mặt trận; chủ tướng tôi là Giô-áp và các tôi tớ của chúa thượng đang hạ trại ngoài đồng trống, lẽ nào tôi lại vào nhà tôi mà ăn, uống, và nằm với vợ tôi sao? Tôi chỉ sinh mạng của vua mà thề rằng tôi sẽ không bao giờ làm như thế.”

12 Ða-vít nói, “Vậy hôm nay ngươi cứ ở lại đây, rồi ngày mai ta sẽ cho ngươi đi.” Vậy U-ri-a ở lại Giê-ru-sa-lem ngày hôm đó và hôm sau. 13 Ða-vít cho mời ông đến. Ông ăn và uống với vua. Vua ép ông uống rượu đến say khướt. Nhưng tối đến ông đi ra nằm trên giường của ông với các tôi tớ của chúa thượng ông, chứ không đi xuống nhà ông. 14 Ðến sáng hôm sau, Ða-vít viết một bức thư gởi cho Giô-áp và bảo U-ri-a đích thân mang đi. 15 Trong thư ông viết, “Hãy sắp đặt cho U-ri-a ở hàng đầu, chỗ trận chiến nóng bỏng nhất, rồi rút lui, để ông ấy bị kẹt lại, hầu địch quân sẽ đánh cho tử trận.”

16 Vậy khi Giô-áp công thành, ông sắp đặt U-ri-a ở vị trí mà ông biết những kẻ dũng cảm nhất của địch quân đang tử thủ. 17 Vậy quân trong thành đi ra giao chiến với quân của Giô-áp. Một vài binh sĩ trong số các tôi tớ của Ða-vít tử trận, và U-ri-a người Hít-ti cũng tử trận. 18 Ðoạn Giô-áp sai sứ giả báo tin cho Ða-vít biết mọi việc về tình hình chiến sự 19 và dặn sứ giả rằng, “Sau khi ngươi báo cáo cho vua về tình hình chiến sự, 20 nếu vua nổi giận mà quở trách, ‘Tại sao khi giao chiến mà các ngươi lại tiến sát vào thành như thế? Các ngươi há không biết rằng từ trên tường thành chúng có thể bắn tên xuống hay sao? 21 Ai đã giết chết A-bi-mê-léc con trai Giê-ru-bê-sết?[b] Há chẳng phải là một người đàn bà đã lấy một khối đá cối xay từ trên tường thành ném xuống trúng đầu ông ấy, và ông ấy đã chết tại Thê-bê hay sao? Tại sao các ngươi lại tiến sát vào tường thành như thế?’ Bấy giờ ngươi hãy nói, ‘Tôi tớ của chúa thượng là U-ri-a người Hít-ti cũng đã tử trận.’”

22 Vậy sứ giả ấy đi và báo cáo cho Ða-vít mọi điều Giô-áp đã sai bảo mình. 23 Sứ giả ấy tâu với Ða-vít, “Lúc đầu địch quân có vẻ mạnh hơn chúng ta. Chúng kéo ra giao tranh với chúng tôi ngoài đồng trống, nhưng chúng tôi đánh bật lại và khiến chúng phải rút lui về tận cổng thành. 24 Quân xạ tiển của địch từ trên thành bắn xuống các tôi tớ chúa thượng. Một vài người trong số các tôi tớ chúa thượng đã tử trận, và tôi tớ chúa thượng là U-ri-a người Hít-ti cũng đã tử trận.”

25 Bấy giờ Ða-vít nói với sứ giả, “Ngươi hãy nói với Giô-áp thế nầy, ‘Ðừng để việc ấy làm bận tâm. Gươm đao thì khi chém trúng người nầy, khi chém trúng người khác. Hãy mạnh mẽ lên mà công thành và lật đổ nó.’ Ngươi hãy khích lệ ông ấy như vậy.”

26 Khi vợ của U-ri-a nghe tin U-ri-a chồng bà đã tử trận, bà để tang than khóc chồng. 27 Khi thời kỳ thọ tang than khóc đã xong, Ða-vít sai người đến rước bà vào cung. Bà trở thành vợ ông và sinh cho ông một con trai. Nhưng điều Ða-vít đã làm đó không đẹp lòng Chúa.

Tiên Tri Na-than và Vua Ða-vít

12 Bấy giờ Chúa sai Na-than đến với Ða-vít. Ông đến gặp vua và nói với vua: “Trong thành kia có hai người; một người giàu và một người nghèo. Người giàu có rất nhiều bầy chiên và bầy bò. Nhưng người nghèo chẳng có gì cả ngoại trừ một con chiên cái nhỏ mà ông đã mua về và nuôi nó. Nó lớn lên với ông và các con ông. Nó ăn thực phẩm của ông, uống trong chén của ông, và nằm trong lòng ông. Nó giống như con gái của ông. Một ngày kia người giàu có một người khách từ xa đến thăm. Ông ấy tiếc của, nên không bắt một con trong các bầy chiên hay bầy bò của mình để làm thịt đãi khách từ xa đến, nhưng ông lại bắt con chiên của người nghèo làm thịt để thết đãi người đến thăm ông.”

Ða-vít bừng bừng nổi giận người giàu ấy và nói với Na-than, “Có Chúa Hằng Sống chứng giám, kẻ làm như thế thật đáng chết! Hắn phải đền lại gấp tư cho con chiên đã bị giết, bởi vì hắn đã làm điều ấy, và vì hắn không có lòng thương xót.”

Bấy giờ Na-than nói với Ða-vít, “Ngài chính là người đó! Chúa, Ðức Chúa Trời của I-sơ-ra-ên, phán thế nầy: ‘Ta đã xức dầu cho ngươi làm vua trên I-sơ-ra-ên và giải cứu ngươi khỏi tay Sau-lơ. Ta đã ban cho ngươi nhà của chủ ngươi. Ta cũng ban những người vợ của chủ ngươi vào lòng ngươi. Ta đã ban cho ngươi cả nhà I-sơ-ra-ên lẫn nhà Giu-đa. Nếu như thế mà vẫn chưa đủ, Ta sẽ ban cho ngươi thêm nữa! Tại sao ngươi khinh thường Lời Chúa mà làm điều ác trước mắt Ngài? Ngươi đã dùng gươm giết U-ri-a người Hít-ti. Ngươi đã cướp vợ nó làm vợ ngươi. Ngươi đã mượn gươm của dân Am-môn giết nó. 10 Vậy bây giờ, nạn gươm đao sẽ không lìa khỏi nhà ngươi, vì ngươi đã khinh thường Ta và đã lấy vợ của U-ri-a người Hít-ti làm vợ ngươi.’

11 Chúa phán thế nầy: Nầy, Ta sẽ dấy lên kẻ chống nghịch ngươi ngay từ trong nhà ngươi. Ta sẽ lấy các vợ của ngươi trao cho kẻ lân cận ngươi ngay trước mắt ngươi. Nó sẽ ăn nằm với các vợ ngươi giữa thanh thiên bạch nhật. 12 Ngươi đã làm điều đó một cách ám muội, nhưng Ta sẽ cho thực hiện điều ấy trước mắt dân I-sơ-ra-ên giữa thanh thiên bạch nhật.”

13 Bấy giờ Ða-vít thú nhận với Na-than, “Tôi đã phạm tội với Chúa.”

Na-than nói, “Chúa cũng bỏ qua tội của ngài; ngài sẽ không chết vì tội nầy. 14 Tuy nhiên vì việc nầy, ngài đã tạo cơ hội cho những kẻ thù của Chúa có lý do để nói những lời xúc phạm đến Chúa, vì thế đứa trẻ sinh cho ngài chắc chắn sẽ chết.” 15 Sau đó Na-than cáo lui và trở về nhà ông.

Con của Bát-sê-ba và Ða-vít Chết

Chúa đánh đứa trẻ mà vợ của U-ri-a sinh cho Ða-vít, nên nó bị bịnh nặng. 16 Do đó Ða-vít tha thiết van xin Ðức Chúa Trời cho đứa trẻ được sống. Ða-vít kiêng ăn, đi vào, và nằm dưới đất suốt đêm. 17 Các vị lão quan trong triều[c] đứng dậy đến gặp ông. Họ khuyên ông nên trỗi dậy khỏi mặt đất, nhưng ông không nghe lời khuyên của họ và cũng không chịu ăn gì với họ. 18 Ðến ngày thứ bảy, đứa trẻ qua đời. Quần thần của Ða-vít sợ, không ai dám báo tin cho ông hay rằng đứa trẻ đã chết, vì họ nghĩ, “Nầy, khi đứa trẻ còn sống, chúng ta khuyên vua mà vua không nghe chúng ta. Bây giờ đứa trẻ đã chết, làm sao chúng ta có thể nói cho vua hay được? Biết đâu vua sẽ làm điều gì bất trắc để hại chính mình thì sao?”

19 Khi Ða-vít thấy quần thần của ông cứ thì thầm với nhau, Ða-vít đoán rằng đứa trẻ đã qua đời, nên Ða-vít hỏi quần thần của ông, “Ðứa trẻ đã chết rồi phải không?”

Họ đáp, “Thưa, cháu đã qua đời.”

20 Bấy giờ Ða-vít trỗi dậy khỏi mặt đất, tắm rửa, xức dầu, và thay quần áo; kế đó ông đi vào nhà Chúa, sấp mình xuống, và thờ phượng. Ðoạn ông trở về nhà ông. Ông bảo người ta mang thức ăn đến. Họ dọn thức ăn ra cho ông, và ông ăn uống trở lại.

21 Quần thần của ông hỏi ông, “Ngài làm gì vậy? Khi đứa trẻ còn sống thì ngài kiêng ăn và khóc lóc, nhưng bây giờ đứa trẻ đã chết rồi, ngài lại trỗi dậy và ăn uống!”

22 Ông đáp, “Khi đứa trẻ còn sống, ta kiêng ăn và khóc lóc, vì ta nghĩ rằng, ‘Biết đâu Chúa sẽ thương xót ta mà cho đứa trẻ được sống chăng?’ 23 Nhưng bây giờ nó đã chết rồi, ta còn phải kiêng ăn làm gì? Ta há có thể làm cho nó sống lại được sao? Ta sẽ đi về với nó, chứ nó sẽ không trở về với ta.”

Sa-lô-môn Chào Ðời

24 Ða-vít an ủi Bát-sê-ba vợ ông. Ông đến với bà và nằm với bà. Bà sinh cho ông một con trai. Ông đặt tên cho nó là Sa-lô-môn. Chúa thương yêu đứa trẻ. 25 Ngài sai Tiên Tri Na-than đến nói cho ông biết điều đó. Ông gọi nó là Giê-đi-đi-gia,[d]Chúa thương yêu nó.

Thành Ráp-ba Bị Ðánh Hạ

26 Lúc ấy Giô-áp đang tấn công Thành Ráp-ba của dân Am-môn và sắp chiếm được kinh đô của họ. 27 Giô-áp sai các sứ giả đến báo tin cho Ða-vít, “Tôi đang tấn công Thành Ráp-ba và đã chiếm được nguồn cung cấp nước của thành. 28 Vậy bây giờ xin ngài tập họp quân đội, dẫn đến hạ trại trước cổng thành, và chiếm lấy nó, kẻo tôi sẽ vào chiếm lấy thành và công ấy sẽ thuộc về tôi chăng.”[e]

29 Vậy Ða-vít tập họp toàn quân lại và tiến đến Ráp-ba. Ông tấn công nó và chiếm được nó. 30 Ông lấy chiếc vương miện trên đầu của vua thành ấy. Vương miện ấy làm bằng ba mươi bốn ký-lô[f] vàng và khảm đầy ngọc quý. Người ta đội nó lên đầu Ða-vít. Ông cũng lấy và đem đi khỏi thành ấy rất nhiều chiến lợi phẩm. 31 Còn dân trong thành, ông bắt họ đem đi làm lao dịch như cưa gỗ, cày bừa, đốn cây, và đúc gạch. Ông bắt dân trong tất cả các thành của dân Am-môn phải làm lao dịch như vậy. Sau đó ông và đội quân đi viễn chinh với ông trở về Giê-ru-sa-lem.

Footnotes:

  1. II Sa-mu-ên 11:8 nt: rửa chân
  2. II Sa-mu-ên 11:21 Giê-ru-ba-anh tức là Ghi-đê-ôn (Thủ 6:32)
  3. II Sa-mu-ên 12:17 nt: các vị trưởng lão trong nhà
  4. II Sa-mu-ên 12:25 Nghĩa là “Người được Chúa thương.”
  5. II Sa-mu-ên 12:28 ctd: kẻo thành ấy sẽ mang tên tôi chăng
  6. II Sa-mu-ên 12:30 nt: cân nặng một ta-lâng
Bản Dịch 2011 (BD2011)

Copyright © 2011 by Bau Dang

Thánh Thi 32 Bản Dịch 2011 (BD2011)

Phước của Người Ðược Tha Thứ và Tin Cậy Chúa

Giáo huấn ca của Ða-vít

32 Phước cho người được tha sự vi phạm mình,
Ðược khỏa lấp tội lỗi mình!
Phước cho người được Chúa không kể tội của mình,
Và trong lòng không có điều chi gian dối!

Khi con cố nín lặng, các xương cốt con vẫn bị tiêu hao,
Bởi con phải rên rỉ suốt ngày;
Vì cả ngày lẫn đêm tay Ngài đè nặng trên con;
Sức sống con cạn dần như gặp hơi nóng mùa hè. (Sê-la)

Con nhìn nhận những tội lỗi con đã phạm đối với Ngài,
Con chẳng dám giấu giếm các tội lỗi của con;
Con nói, “Con xưng nhận các vi phạm của con đối với Chúa,”
Và Ngài đã tha thứ các lỗi lầm vi phạm của con. (Sê-la)

Vì vậy mong những người có lòng tin kính hãy cầu nguyện với Ngài khi họ còn có thể tìm được Ngài,
Hầu khi những dòng nước lụt đoán phạt lớn lao ập đến, chúng sẽ không đến gần họ.
Ngài là nơi ẩn náu của con;
Ngài gìn giữ con khỏi bị hoạn nạn;
Ngài bao quanh con bằng những bài ca giải cứu. (Sê-la)

Ta sẽ dạy bảo ngươi và chỉ cho ngươi con đường phải đi;
Mắt Ta hằng ở với ngươi để Ta hướng dẫn ngươi.
Ðừng như con ngựa hoặc con la là loài không thông sáng,
Ngươi phải dùng hàm khớp và dây cương để điều khiển chúng,
Bằng không, chúng chẳng vâng lời[a] ngươi.

10 Kẻ ác sẽ gặp nhiều đau khổ;
Nhưng ai tin cậy Chúa, lòng thương xót của Ngài sẽ bao bọc người ấy.
11 Hỡi người ngay lành, hãy vui vẻ và hân hoan trong Chúa;
Hỡi người có lòng ngay thẳng, hãy cất tiếng reo mừng.

Footnotes:

  1. Thánh Thi 32:9 nt: đến gần
Bản Dịch 2011 (BD2011)

Copyright © 2011 by Bau Dang

Thánh Thi 51 Bản Dịch 2011 (BD2011)

Cầu Xin Chúa Tha Thứ

Lời Cầu Nguyện của Người Thật Lòng Ăn Năn Sám Hối

Thơ của Ða-vít

Cho Trưởng Ban Nhạc

Cảm tác khi Tiên Tri Na-than đến gặp ông, sau khi ông đã phạm tội với bà Bát-sê-ba

51 Ðức Chúa Trời ôi, xin thương xót con theo tình thương của Ngài;
Xin xóa bỏ các vi phạm con theo lòng thương xót lớn lao của Ngài.
Xin rửa sạch con khỏi mọi gian ác của con;
Xin tẩy sạch con khỏi mọi tội lỗi của con,
Vì con nhận biết các vi phạm của con;
Tội lỗi của con hằng ở trước mặt con.

Con đã phạm tội đối với Ngài và chỉ đối với Ngài mà thôi;
Con đã làm điều ác trước mặt Ngài;
Vì thế Ngài thật đúng khi Ngài phán xét;
Khi Ngài tuyên án, con không thể trách Ngài được.
Kìa, vừa mới sinh ra, con đã là người có tội;
Con đã là tội nhân từ lúc con được thụ thai trong lòng mẹ con.
Kìa, Ngài muốn sự thật trong đáy lòng con;
Trong nơi sâu thẳm nhất của tâm hồn, Ngài dạy con biết lẽ khôn ngoan.
Xin dùng nhánh bài hương tẩy rửa con, để con được sạch;
Xin thanh tẩy con, để con trở nên trắng hơn tuyết.
Xin cho con được hưởng niềm vui và niềm sảng khoái của người được tha thứ,
Ðể các xương con đã bị Ngài bẻ gãy được vui mừng.
Xin che mặt Ngài để khỏi phải nhìn thấy các tội lỗi của con,
Xin xóa sạch mọi gian ác của con.

10 Ðức Chúa Trời ôi, xin dựng nên trong con một lòng trong sạch,
Và làm mới lại trong con một tâm linh chính trực.
11 Xin đừng quăng con khỏi thánh nhan Ngài;
Xin đừng cất Ðức Thánh Linh của Ngài khỏi con.
12 Xin khôi phục cho con niềm vui cứu rỗi của Ngài;
Xin giúp con luôn giữ tinh thần đầu phục Ngài,
13 Ðể con sẽ chỉ cho những ai vi phạm biết đường lối Ngài,
Rồi những kẻ tội lỗi sẽ quay về với Ngài.
14 Ðức Chúa Trời ôi, xin giải cứu con khỏi tội làm đổ máu,
Lạy Ðức Chúa Trời, Ðấng Giải Cứu của con,
Ðể lưỡi con sẽ vui mừng ca ngợi ơn cứu rỗi[a] của Ngài.

15 Chúa ôi, xin mở môi con,
Ðể miệng con truyền ra những lời ca tụng Ngài,
16 Vì Ngài không vui thích của tế lễ,
Bởi nếu Ngài thích, con đã dâng rồi;
Dù con dâng của lễ thiêu, Ngài cũng chẳng vui lòng.
17 Của lễ đẹp lòng Ðức Chúa Trời là một tâm linh tan vỡ;
Ðức Chúa Trời ôi, một tấm lòng tan vỡ và thống hối Ngài sẽ chẳng coi thường.

18 Cầu xin Ngài làm điều tốt cho Si-ôn theo lòng tốt của Ngài;
Cầu xin Ngài dựng lại các tường thành của Giê-ru-sa-lem.
19 Bấy giờ Ngài sẽ vui lòng về các của lễ dâng lên để được xưng công chính,
Tức các của lễ thiêu và các của lễ toàn thiêu;
Rồi các bò đực tơ sẽ được hiến dâng trên bàn thờ Ngài.

Footnotes:

  1. Thánh Thi 51:14 ctd: đức công chính
Bản Dịch 2011 (BD2011)

Copyright © 2011 by Bau Dang

II Cô-rinh-tô 5:19-21 Bản Dịch 2011 (BD2011)

19 hay nói cách khác, trong Ðấng Christ, Ðức Chúa Trời đang giải hòa thế gian với chính Ngài, không kể đến các vi phạm của họ nữa, và đã trao cho chúng ta sứ điệp giải hòa. 20 Vậy chúng ta là những đại sứ của Ðấng Christ, như thể Ðức Chúa Trời đang mời gọi qua chúng ta. Thay cho Ðấng Christ chúng tôi nài xin anh chị em: hãy làm hòa với Ðức Chúa Trời. 21 Vì cớ chúng ta, Ðức Chúa Trời đã khiến Ðấng không biết tội lỗi thành người có tội, để nhờ ở trong Ngài, chúng ta trở nên những người công chính trước mặt Ðức Chúa Trời.

Bản Dịch 2011 (BD2011)

Copyright © 2011 by Bau Dang

Rô-ma 4:9-15 Bản Dịch 2011 (BD2011)

Áp-ra-ham Ðược Xưng Công Chính Không Nhờ Phép Cắt Bì

Phải chăng phước hạnh ấy chỉ dành cho những người được cắt bì, hay cũng cho những người không được cắt bì nữa? Vì nếu chúng ta nói rằng,

“Nhờ đức tin mà Áp-ra-ham được kể là công chính,”[a]

10 thì nếu vậy, ông ta được kể là công chính như thế nào? Lúc ông đã được cắt bì rồi, hay lúc ông chưa được cắt bì?

Không phải sau khi ông đã được cắt bì đâu, nhưng là trước khi ông được cắt bì. 11 Ông đã nhận dấu cắt bì như một dấu ấn của việc được xưng công chính nhờ đức tin trong khi ông còn là một người chưa được cắt bì, để ông có thể làm tổ phụ của tất cả những người có đức tin dù không được cắt bì, hầu họ cũng được kể là công chính. 12 Cũng vậy, ông là tổ phụ của những người được cắt bì, tức những người không những chỉ được cắt bì nhưng cũng bước theo những bước đức tin mà ông, tổ phụ Áp-ra-ham của chúng ta, đã trải qua trong lúc ông chưa được cắt bì.

Áp-ra-ham Ðược Xưng Công Chính Không Nhờ Vâng Giữ Luật Pháp

13 Vì không phải nhờ vâng giữ Luật Pháp mà Áp-ra-ham hay dòng dõi ông được lời hứa sẽ nhận thế gian làm cơ nghiệp, nhưng là nhờ được xưng công chính bởi đức tin. 14 Vì nếu nhờ vâng giữ Luật Pháp mà được thừa hưởng cơ nghiệp thì đức tin đã trở thành vô ích, và lời hứa đã bị vô hiệu hóa. 15 Vì Luật Pháp sẽ đem cơn thịnh nộ đến với người phạm pháp; và chỉ nơi nào không có Luật Pháp, nơi đó mới không có sự phạm pháp.

Footnotes:

  1. Rô-ma 4:9 Sáng 15:6
Bản Dịch 2011 (BD2011)

Copyright © 2011 by Bau Dang

Sáng Thế 15:6 Bản Dịch 2011 (BD2011)

Ông tin Chúa, bởi thế ông được Ngài xem là công chính.

Bản Dịch 2011 (BD2011)

Copyright © 2011 by Bau Dang

Sáng Thế 15:13-18 Bản Dịch 2011 (BD2011)

13 Bấy giờ Ngài phán với Áp-ram, “Hãy biết rõ điều nầy: Dòng dõi ngươi sẽ làm kiều dân trong một xứ không phải là xứ của chúng. Chúng sẽ làm tôi mọi cho người ta, và người ta sẽ hành hạ chúng trong bốn trăm năm. 14 Nhưng Ta sẽ thi hành sự đoán phạt trên đất nước mà chúng sẽ làm tôi mọi. Sau đó chúng sẽ ra đi với rất nhiều của cải. 15 Còn ngươi, ngươi sẽ quy về với các tổ tiên ngươi trong bình an; ngươi sẽ được chôn cất sau khi đã tận hưởng tuổi già đầy phước hạnh. 16 Ðến thế hệ thứ tư, dòng dõi ngươi sẽ trở về đây, vì tội ác của dân A-mô-ri chưa đầy trọn.”

17 Khi mặt trời đã lặn hẳn và bóng đêm bao trùm vạn vật, kìa, một lò lửa tỏa khói nghi ngút đột nhiên xuất hiện, rồi một ngọn lửa từ lò lửa đó loè ra, xuyên qua hai đống thịt các con vật hiến tế. 18 Ngày hôm đó Chúa đã lập một giao ước với Áp-ram rằng, “Ta ban cho dòng dõi ngươi đất nầy, từ Sông Ai-cập đến Sông Cả, tức Sông Ơ-phơ-rát,

Bản Dịch 2011 (BD2011)

Copyright © 2011 by Bau Dang

Sáng Thế 16:1-4 Bản Dịch 2011 (BD2011)

Ích-ma-ên Ðược Sinh Ra

16 Khi ấy Sa-rai vợ Áp-ram vẫn không sinh cho ông được người con nào. Bà có một nữ tỳ người Ai-cập tên là Ha-ga. Sa-rai nói với Áp-ram, “Anh xem đấy, Chúa đã buộc dạ em, không cho em sinh con cho anh; bây giờ anh hãy đến với nữ tỳ của em; biết đâu nhờ nó em sẽ có con.” Áp-ram nghe theo lời của Sa-rai.

Sau mười năm Áp-ram kiều ngụ trong xứ Ca-na-an, Sa-rai vợ Áp-ram đem Ha-ga người Ai-cập, nữ tỳ của bà, đến cho Áp-ram chồng bà để nàng làm vợ ông. Ông đến với Ha-ga, và nàng mang thai. Khi Ha-ga thấy mình có thai, nàng khinh bỉ bà chủ của nàng ra mặt.

Bản Dịch 2011 (BD2011)

Copyright © 2011 by Bau Dang

Sáng Thế 16:16 Bản Dịch 2011 (BD2011)

16 Áp-ram được tám mươi sáu tuổi khi Ha-ga sinh Ích-ma-ên cho Áp-ram.

Bản Dịch 2011 (BD2011)

Copyright © 2011 by Bau Dang

Sáng Thế 17:25-26 Bản Dịch 2011 (BD2011)

25 Ích-ma-ên con trai ông được mười ba tuổi khi cậu ấy được cắt bì để cắt bỏ phần da bao quy đầu của cậu ấy. 26 Trong chính ngày đó Áp-ra-ham và Ích-ma-ên con trai ông đều được cắt bì.

Bản Dịch 2011 (BD2011)

Copyright © 2011 by Bau Dang

Ga-la-ti 3:15-18 Bản Dịch 2011 (BD2011)

Luật Pháp và Lời hứa

15 Thưa anh chị em, tôi nói theo cách của loài người rằng, dù là giao ước giữa người với người, một khi giao ước đã được ký kết[a] xong, không ai được quyền tự ý loại bỏ hay thêm bớt điều gì. 16 Về các lời hứa đã hứa với Áp-ra-ham và với dòng dõi ông thì không nói “cho các con cháu ngươi” như cho nhiều người, nhưng nói “cho con ngươi”[b] như chỉ cho một người, và người đó chính là Ðấng Christ.

17 Ðiều tôi muốn nói là thế nầy: Luật Pháp bốn trăm ba mươi năm sau mới đến không có quyền hủy bỏ giao ước đã được Ðức Chúa Trời phê chuẩn từ trước, mà làm cho lời hứa bị vô hiệu hóa. 18 Vì nếu sự thừa hưởng cơ nghiệp căn cứ vào Luật Pháp thì không còn căn cứ vào lời hứa; nhưng Ðức Chúa Trời đã ban cơ nghiệp cho Áp-ra-ham dựa trên lời hứa.

Footnotes:

  1. Ga-la-ti 3:15 ctd: phê chuẩn
  2. Ga-la-ti 3:16 Sáng 12:7; nt: một hạt giống, một hậu duệ
Bản Dịch 2011 (BD2011)

Copyright © 2011 by Bau Dang

Rô-ma 4:16-25 Bản Dịch 2011 (BD2011)

16 Thế thì nhờ đức tin tiếp nhận ân sủng mà lời hứa được bảo đảm cho cả dòng dõi của Áp-ra-ham, không những chỉ cho dòng dõi ở dưới Luật Pháp, nhưng cũng cho dòng dõi đức tin của ông nữa. Ông chính là tổ phụ của tất cả chúng ta, (17 như có chép rằng,

“Ta đã lập ngươi làm cha của nhiều dân tộc”[a])

trước mặt Ðức Chúa Trời, Ðấng ông tin có quyền làm cho kẻ chết sống lại và ra lịnh[b] cho những gì chưa hiện hữu trở thành hiện hữu.

Ðức Tin của Áp-ra-ham và Ðức Tin của Chúng Ta

18 Mặc dù Áp-ra-ham[c] không còn gì để hy vọng, ông vẫn hy vọng và vẫn tin rằng ông sẽ trở thành

“Cha của nhiều dân tộc,”[d]

theo như lời đã phán với ông rằng,

“Dòng dõi ngươi sẽ đông như thế.”[e]

19 Ðức tin của ông không hề suy giảm, mặc dù thân thể ông đã tàn tạ,[f] vì lúc ấy ông đã gần một trăm tuổi, và dạ bà Sa-ra không còn thể sinh con.[g] 20 Nhưng đối với lời hứa của Ðức Chúa Trời, ông không hề nao núng đức tin mà nghi ngờ thắc mắc,[h] nhưng càng tin tưởng mãnh liệt hơn, và như thế đã đem vinh hiển về cho Ðức Chúa Trời. 21 Ông tin quả quyết rằng Ðức Chúa Trời có khả năng làm thành những gì Ngài đã hứa. 22 Vì thế ông đã được kể là người công chính.

23 Nhưng khi viết rằng, “ông đã được kể là người công chính,” thì điều ấy không những chỉ nói về một mình ông, 24 nhưng cũng nói về chúng ta nữa. Chúng ta cũng sẽ được kể là những người công chính khi chúng ta tin Ðấng đã làm cho Ðức Chúa Jesus, Chúa chúng ta, từ cõi chết sống lại. 25 Ngài đã bị nộp để chết vì tội chúng ta và đã được làm cho sống lại, để chúng ta được xưng công chính.

Footnotes:

  1. Rô-ma 4:17 Sáng 17:5
  2. Rô-ma 4:17 nt: gọi
  3. Rô-ma 4:18 nt: ông ấy
  4. Rô-ma 4:18 Sáng 17:5
  5. Rô-ma 4:18 Sáng 15:5
  6. Rô-ma 4:19 nt: như thể đã chết rồi
  7. Rô-ma 4:19 nt: như đã chết
  8. Rô-ma 4:20 nt: vô tín
Bản Dịch 2011 (BD2011)

Copyright © 2011 by Bau Dang

  Back

1 of 1

You'll get this book and many others when you join Bible Gateway Plus. Learn more